Chùa Hải-Đức in Jacksonville
|
Kinh
Giải Thâm Mật
Lúc bấy giờ đại bồ tát Quảng tuệ thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, như Ngài nói Bồ tát khéo biết mật nghĩa (51) tâm ư thức, vậy Bồ tát khéo biết mật nghĩa tâm ư thức là ngang đâu mới được gọi là Bồ tát khéo biết mật nghĩa tâm ư thức? và ngang đâu mới được Ngài qui định vị Bồ tát ấy là Bồ tát khéo biết mật nghĩa tâm ư thức (52)? Đại bồ tát Quảng tuệ bạch hỏi như vậy rồi, đức Thế tôn dạy ngài: Tốt lắm, Quảng tuệ, ông có thể hỏi Như lai cái thâm nghĩa như vậy. Vậy là ông muốn lợi ích yên vui cho vô lượng chúng sinh. Ông thương tưởng cả thế giới loài người, và tám bộ loại khác, muốn làm cho họ được lợi thật, được yên vui, nên phát ra câu hỏi vừa rồi. Ông hăy nghe kyծ Như lai sẽ nói cho ông về mật nghĩa tâm ư thức. (Trước hết), Quảng tuệ, ông nên nhận thức rằng sự sinh tử trong sáu đường, chúng sinh chết ở thế giới nào rồi sinh vào thế giới nào (53) , th́ thân thể hoặc sinh trong loài sinh bằng trứng, hoặc sinh trong loài sinh bằng thai, hoặc sinh trong loài sinh bằng ẩm thấp, hoặc sinh trong loài sinh bằng biến hóa. Sự sinh ấy đầu tiên do chủng tử thức vốn đă thành thục nay triển chuyển hóa hợp, tuần tự lớn lên (53B) , với hai sự chấp thọ của thức ấy: một là chấp thọ các sắc căn và sở y của các sắc căn, hai là chấp thọ chủng tử của tướng, danh và phân biệt, loại chủng tử do ngôn từ hư luận mà có (54) . Sinh trong thế giới có h́nh sắc th́ có đủ hai sự chấp thọ vừa nói, c̣n sinh trong thế giới không h́nh sắc th́ không đủ hai sự chấp thọ ấy (55) . Thứ nữa, Quảng tuệ, thức ấy cũng tên là a đà na, v́ nó theo mà nắm giữ thân thể; cũng tên là a lại da, v́ nó chấp thọ mà cùng yên cùng nguy với thân thể; cũng tên là tâm, v́ nó do sắc thanh hương vị xúc pháp tích tụ tăng trưởng (56) . Sau nữa, Quảng tuệ, chính a đà na thức làm nền tảng và xây dựng mà phát sinh sáu thức nhăn nhĩ tyՠthiệt thân ư: do nhăn căn và sắc cảnh làm duyên tố mà phát sinh nhăn thức, đồng thời đồng cảnh có ư thức cùng phát sinh với nhăn thức ấy; do các căn nhĩ tỹ thiệt thân và các cảnh thanh hương vị xúc làm duyên tố mà phát sinh các thức nhĩ tyՠthiệt thân, đồng thời đồng cảnh có ư thức cùng phát sinh với các thức nhĩ tyՠthiệt thân ấy. Như vậy nếu một lúc nào đó chỉ có một thức phát sinh th́ lúc đó chỉ có một ư thức cùng phát sinh với một thức ấy, nếu một lúc nào đó có hai đến năm thức phát sinh th́ lúc đó cũng chỉ có một ư thức cùng phát sinh với hai đến năm thức ấy. Ví như ḍng nước chảy vừa mạnh vừa lớn, nếu có duyên tố nổi một cơn sóng th́ một cơn sóng nổi lên, nếu có duyên tố nổi hai đến nhiều cơn sóng th́ hai đến nhiều cơn sóng nổi lên, nhưng bản thân ḍng nước vẫn chảy măi, không đứt không hết. Lại như mặt gương tốt và sáng, nếu có duyên tố hiện một h́nh ảnh th́ chỉ một h́nh ảnh hiện ra, nếu có hai đến nhiều duyên tố hiện hai đến nhiều h́nh ảnh th́ hai đến nhiều h́nh ảnh hiện ra, nhưng không phải mặt gương biến thành h́nh ảnh, cũng không có sự hết hiện h́nh ảnh. Tương tự như vậy, do ḍng nước a đà na thức làm nền tảng và xây dựng, nên một lúc nào đó có duyên tố phát sinh của một thức th́ lúc đó một thức phát sinh, nếu một lúc nào đó có duyên tố phát sinh của hai đến năm thức th́ lúc đó có hai đến năm thức phát sinh (57) . Quảng tuệ, như trên là Bồ tát do cái trí pháp trú (58) làm nền tảng và xây dựng mà khéo biết mật nghĩa tâm ư thức. Thế nhưng Như lai không ngang đây qui định vị Bồ tát ấy là Bồ tát khéo biết tất cả mật nghĩa của tâm ư thức. Quảng tuệ nếu Bồ tát từ bên trong và rành rẽ, đúng như sự thật mà không thấy (59) a đà na và a đà na thức, không thấy a lại da và a lại da thức, không thấy tích tập và tích tập tâm, không thấy nhăn căn sắc cảnh và nhăn thức, cho đến không thấy ư căn pháp cảnh và ư thức, như thế mới gọi là vị Bồ tát khéo biết thắng nghĩa, và ngang đây Như lai qui định vị Bồ tát ấy là Bồ tát khéo biết thắng nghĩa; cũng ngang đây gọi là vị Bồ tát khéo biết tất cả mật nghĩa của tâm ư thức, và cũng ngang đây Như lai qui định vị Bồ tát ấy là Bồ tát khéo biết tất cả mật nghĩa của tâm ư thức. Muốn lặp lại ư nghĩa đă nói, nên lúc bấy giờ đức Thế tôn nói những lời chỉnh cú sau đây. Thức a đà na cùng cực vi tế, tất cả chủng tử như ḍng nước mạnh (59B) . Như lai không nói cho kẻ phàm ngu, sợ họ phân biệt chấp làm bản ngă.
Lúc bấy giờ đại bồ tát Đức bản thưa Phật: bạch đức Thế tôn, như Ngài nói Bồ tát khéo biết tánh của các pháp, vậy Bồ tát khéo biết tánh của các pháp là ngang đâu mới được gọi là Bồ tát khéo biết tánh của các pháp? và ngang đâu mới được Ngài qui định vị Bồ tát ấy là Bồ tát khéo biết tánh của các pháp? Đại bồ tát Đức bản bạch hỏi như vậy rồi, đức Thế tôn dạy ngài: Tốt lắm, Đức bản, ông có thể hỏi Như lai cái thâm nghĩa như vậy. Vậy là ông muốn lợi ích yên vui cho vô lượng chúng sinh. Ông thương tưởng cả thế giới loài người, và tám bộ loại khác, muốn làm cho họ được lợi thật, được yên vui, nên phát ra câu hỏi vừa rồi. Ông hăy nghe kyծ Như lai sẽ nói cho ông về tánh của các pháp. Đức bản, tánh của các pháp đại lược có ba mặt: một là biến kế chấp tánh, hai là y tha khởi tánh, ba là viên thành thật tánh. Biến kế chấp tánh là thế nào, là tự tánh và sai biệt (60B) của các pháp, được giả thiết bởi danh từ, cho đến làm cho theo đó mà phát sinh ngôn ngữ. Y tha khởi tánh là thế nào, là đặc tính duyên sinh của các pháp, cái này có th́ cái kia có, cái này sinh th́ cái kia sinh, vô minh duyên sinh hành, cho đến tập hợp cả đống đau khổ thuần nhất và lớn lao. Viên thành thật tánh là thế nào, là chân như nhất quán của các pháp, chân như mà Bồ tát phải do các duyên tố tinh tiến dũng mănh, tác ư đúng lư và tư duy không ngược mới thông đạt, bằng vào sự thông đạt này mà tuần tự tu tập, cho đến vô thượng chánh biến giác mới chứng ngộ viên măn. Đức bản, như người bị bịnh màng mắt, cái màng mắt ấy biến kế chấp tánh cũng vậy. Như người bị bịnh màng mắt thấy những ảo ảnh tóc lông ong ruồi lá diếp giây sắn hay xanh vàng đỏ trắng, những ảo tượng ấy y tha khởi tánh cũng vậy. Như người mắt đă trong sáng, hết hẳn màng mắt, bản tính con mắt trong sáng nh́n thấy cảnh vật không thác loạn, cảnh vật không thác loạn ấy viên thành thật tánh cũng vậy. Lại tựa như ngọc bạch châu trong suốt, nếu nhuộm màu xanh (61) th́ thấy như ngọc đế thanh, do ngộ nhận là ngọc đế thanh mà làm cho người lầm lẫn thác loạn; nếu nhuộm màu đỏ th́ thấy như ngọc hổ phách, do ngộ nhận là ngọc hổ phách mà làm cho người lầm lẫn thác loạn; nếu nhuộm màu lục th́ thấy như ngọc sát sắc, do ngộ nhận là ngọc sát sắc mà làm cho người lầm lẫn thác loạn; nếu nhuộm màu vàng th́ thấy như hoàng kim, do ngộ nhận là hoàng kim mà làm cho người lầm lẫn thác loạn. Tương tự nơi ngọc bạch châu trong suốt mà có màu sắc, nơi y tha khởi tánh mà có tập khí ngôn từ của biến kế chấp tánh th́ cũng như vậy; tương tự nơi ngọc bạch châu trong suốt mà có những ngộ nhận đế thanh hổ phách sát sắc hoàng kim, nơi y tha khởi tánh mà có biến kế chấp tánh th́ cũng như vậy; tương tự ngọc bạch châu trong suốt, y tha khởi tánh th́ cũng như vậy; tương tự nơi ngọc bạch châu trong suốt, đế thanh hổ phách sát sắc hoàng kim luôn luôn và vĩnh viễn không thật có và không đặc tính, nơi y tha khởi tánh, cái viên thành thật tánh mà biến kế chấp tánh luôn luôn và vĩnh viễn không thật có và không đặc tính th́ cũng như vậy (61B) . Đức bản, biết do tướng và danh tương ứng làm duyên tố th́ biết được biến kế chấp tánh; nơi y tha khởi tánh, biết cái chấp của biến kế chấp tánh làm duyên tố th́ biết y tha khởi tánh; nơi y tha khởi tánh, biết không có cái chấp của biến kế chấp tánh làm duyên tố th́ biết viên thành thật tánh. Lại nữa, nếu Bồ tát có thể nơi y tha khởi tánh của các pháp mà đúng như sự thật biết biến kế chấp tánh, th́ thế là đúng như sự thật biết sự vô tướng của các pháp; nếu Bồ tát đúng như sự thật biết y tha khởi tánh, th́ thế là đúng như sự thật biết sự tạp nhiễm của các pháp; nếu Bồ tát đúng như sự thật biết viên thành thật tánh, th́ thế là đúng như sự thật biết sự thanh tịnh của các pháp. Bồ tát nếu nơi y tha khởi tánh mà đúng như sự thật nhận biết sự vô tướng th́ có thể hủy diệt sự tạp nhiễm, nếu có thể hủy diệt sự tạp nhiễm th́ có thể chứng đắc sự thanh tịnh. Đức bản, Bồ tát do đúng như sự thật mà biết biến kế chấp tánh, y tha khởi tánh và viên thành thật tánh, nên cũng đúng như sự thật mà nhận biết sự vô tướng, sự tạp nhiễm và sự thanh tịnh. Đúng như sự thật mà nhận biết sự vô tướng nên hủy diệt sự tạp nhiễm, hủy diệt sự tạp nhiễm nên chứng đắc sự thanh tịnh: ngang đây gọi là vị Bồ tát khéo biết tánh của các pháp, và cũng ngang đây Như lai qui định vị Bồ tát ấy là Bồ tát khéo biết tánh của các pháp. Lúc bấy giờ đức Thế tôn muốn nói lại ư nghĩa đă nói nên nói những lời chỉnh cú sau đây. Nếu không biết rơ về sự vô tướng th́ sự tạp nhiễm không thể hủy diệt, nếu sự tạp nhiễm không thể hủy diệt th́ sự thanh tịnh không thể chứng đắc (62) . Không hề quán sát lỗi lầm các hành, sự phóng dật này làm hại chúng sinh. Nên trong hai mặt trú pháp động pháp (62B) sự nhác làm cho đă không lại có (63) : mất hỏng đến thế thật đáng xót thương.
Lúc ấy đại bồ tát Thắng nghĩa sinh thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, con từng một ḿnh ở chỗ thanh vắng, tâm trí tầm tư như vầy, bằng nhiều mặt, đức Thế tôn đă nói đặc tính, phát sinh, tận diệt, vĩnh đoạn và biến tri của năm uẩn; như Ngài đă nói năm uẩn, th́ Ngài đă nói mười hai xứ, mười hai duyên khởi và bốn thực cũng như vậy; bằng nhiều mặt, Ngài đă nói đặc tính, biến tri, vĩnh đoạn, tác chứng và tu tập của bốn đế; bằng nhiều mặt, Ngài đă nói đặc tính, chủng loại, đa dạng, vĩnh đoạn và biến tri của mười tám giới; bằng nhiều mặt, Ngài đă nói đặc tính, năng trị, sở trị, tu tập chưa sinh th́ phát sinh, đă sinh th́ kiên cố, bội phần tu tập cao lên và rộng ra của bốn niệm trú; như Ngài đă nói bốn niệm trú, th́ Ngài đă nói bốn chính đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy giác chi và tám thánh đạo cũng như vậy. Nhưng đức Thế tôn lại nói các pháp toàn không, không sinh không diệt, bản lai vắng bặt, tự tánh niết bàn. Bạch đức Thế tôn, con chưa hiểu rơ do mật ư nào mà Ngài nói như vậy? Con xin thỉnh vấn Ngài về nghĩa ấy; xin Ngài thương mà giải thích cho chúng con về mật ư mà Ngài nói các pháp toàn không, không sinh không diệt, bản lai vắng bặt, tự tánh niết bàn. Bấy giờ đức Thế tôn bảo đại bồ tát Thắng nghĩa sinh: Tốt lắm, Thắng nghĩa sinh, sự tầm tư của ông rất là đúng lư. Tốt lắm, Thắng nghĩa sinh, ông có thể hỏi Như lai cái thâm nghĩa như vậy. Vậy là ông muốn lợi ích yên vui cho vô lượng chúng sinh. Ông thương tưởng cả thế giới loài người, và tám bộ loại khác, muốn làm cho họ được lợi thật, được yên vui, nên phát ra câu hỏi vừa rồi. Ông hăy nghe kyծ Như lai sẽ giải thích cho ông về mật ư mà Như lai đă nói rằng các pháp toàn không, không sinh không diệt, bản lai vắng bặt, tự tánh niết bàn. Thắng nghĩa sinh, hăy nhận thức rằng Như lai căn cứ ba vô tánh sau đây mà mật ư nói các pháp toàn không, ấy là tướng vô tánh, sinh vô tánh, thắng nghĩa vô tánh. Tướng vô tánh là thế nào, là chính biến kế chấp tánh của các pháp, tại sao, v́ tánh ấy do giả danh thiết lập chứ không phải do tự tướng thiết lập, nên gọi là tướng vô tánh. Sinh vô tánh là thế nào, là chính y tha khởi tánh của các pháp, tại sao, v́ do cái khác là duyên tố mà có chứ không phải tự nhiên mà có, nên gọi là sinh vô tánh. Thắng nghĩa vô tánh là thế nào, là (một mặt), các pháp do sinh vô tánh mà nói là vô tánh, có nghĩa chính các pháp duyên sinh cũng gọi là thắng nghĩa vô tánh, tại sao, v́ nơi các pháp, nếu là thanh tịnh sở duyên th́ Như lai nói là thắng nghĩa vô tánh, mà y tha khởi tánh không phải thanh tịnh sở duyên nên cũng gọi là thắng nghĩa vô tánh. Thêm nữa, (mặt khác), viên thành thật tánh của các pháp cũng gọi là thắng nghĩa vô tánh, tại sao, tại pháp vô ngă của tất cả các pháp th́ gọi là thắng nghĩa, thắng nghĩa này cũng gọi là vô tánh, v́ nó mới là thắng nghĩa của các pháp và do vô tánh hiển lộ, nên (viên thành thật tánh) gọi là thắng nghĩa vô tánh (65) . Tương tự không hoa, tướng vô tánh cũng vậy. Tương tự ảo tượng (của ảo thuật), sinh vô tánh cũng vậy, thắng nghĩa vô tánh mặt thứ nhất cũng vậy. Tương tự hư không do sắc tướng vô tánh hiển lộ và phổ biến tất cả (66) , thắng nghĩa vô tánh mặt thứ hai cũng vậy, v́ do pháp vô ngă hiển lộ và phổ biến tất cả. Như lai căn cứ ba vô tánh như vậy mà mật ư nói rằng các pháp toàn không. Thắng nghĩa sinh, ông nên biết Như lai căn cứ tướng vô tánh mà mật ư nói các pháp không sinh không diệt, bản lai vắng bặc, tự tánh niết bàn, v́ sao, v́ nếu tự tướng các pháp toàn không th́ không sinh, không sinh th́ không diệt, không sinh diệt th́ bản lai vắng bặt, bản lai vắng bặt th́ tự tánh niết bàn, trong đó không có chút ǵ gọi là có để c̣n phải làm cho nhập vào niết bàn, nên Như lai căn cứ tướng vô tánh mà mật ư nói các pháp không sinh không diệt, bản lai vắng bặt, tự tánh niết bàn. Thế nhưng Như lai cũng căn cứ thắng nghĩa vô tánh được hiển lộ bởi pháp vô ngă mà mật ư nói các pháp không sinh không diệt, bản lai vắng bặt, tự tánh niết bàn, v́ sao, v́ thắng nghĩa vô tánh do pháp vô ngă hiển lộ th́, luôn luôn và vĩnh viễn, pháp tánh các pháp là an trú, vô vi, không thích ứng với tất cả tạp nhiễm: luôn luôn và vĩnh viễn, pháp tánh các pháp là an trú nên vô vi, là vô vi nên không sinh diệt, là không thích ứng với tất cả tạp nhiễm nên bản lai vắng bặt, tự tánh niết bàn, thế nên Như lai căn cứ thắng nghĩa vô tánh do pháp vô ngă hiển lộ mà mật ư nói các pháp không sinh không diệt, bản lai vắng bặt, tự tánh niết bàn. Thắng nghĩa sinh, nhưng không phải v́ trong chúng sinh giới có những kẻ nh́n riêng biến kế chấp cho là tự tánh, cũng không phải v́ những kẻ ấy nh́n riêng y tha khởi hay viên thành thật cho là tự tánh cả, mà Như lai thiết lập ba vô tánh. Như lai thiết lập ba vô tánh là v́ những kẻ nơi y tha khởi tánh và viên thành thật tánh mà tăng thêm biến kế chấp tánh. Những kẻ ấy, do biến kế chấp tánh (quá khứ) nên (hiện tại) nơi y tha khởi tánh và viên thành thật tánh mà nổi lên ngôn ngữ; như ngôn ngữ nổi lên thế nào th́ cũng như thế ấy (67) mà ngôn ngữ huân tập vào tâm, ngôn ngữ phát sinh ra biết, ngôn ngữ liên tục trong tâm (67B) , nên nơi y tha khởi tánh và viên thành thật tánh mà tăng thêm biến kế chấp tánh (68) . V́, như biến kế chấp tánh thế nào th́ cũng như thế ấy (68B) , nơi y tha khởi tánh và viên thành thật tánh mà tăng thêm biến kế chấp tánh, nên phát sinh y tha khởi tánh trong tương lai, nghĩa là bị hoặc tạp nhiễm, bị nghiệp tạp nhiễm, bị sinh tạp nhiễm, nên trong phạm vi sinh tử, (những kẻ ấy) măi hoài dong ruổi, trôi lăn, không hề ngừng nghỉ, chịu mọi khổ năo trong nại lạc ca (69) , trong bàng sinh, trong ngạ quỉ, trong chư thiên, trong tu la, trong nhân loại. Thắng nghĩa sinh, với những người từ hồi nào đến giờ chưa gieo trồng thiện căn, chưa làm sạch chướng ngại (70) , chưa thành thục liên tục (71) , chưa tu nhiều thắng giải, chưa thể dồn chứa hai thứ tư lương phước đức trí tuệ, th́ Như lai v́ họ, căn cứ sinh vô tánh mà tuyên thuyết pháp yếu; nghe pháp yếu này rồi, họ có thể tùy sức mà lư giải các hành duyên sinh là không thường hằng, không yên ổn, biến động, hư ră; lư giải như vậy rồi, đối với các hành, họ e sợ, chán ghét sâu xa; e sợ chán ghét như vậy nên họ kềm chế điều ác, với điều ác th́ có khả năng đ́nh chỉ, với điều thiện th́ có khả năng tu tập; tu tập điều thiện nên chưa gieo trồng thiện căn th́ có thể gieo trồng, chưa làm sạch chướng ngại th́ có thể làm sạch, chưa thành thục liên tục th́ có thể thành thục, và do vậy mà tu nhiều thắng giải, dồn nhiều hai thứ tư lương phước đức trí tuệ. Tuy gieo trồng thiện căn cho đến dồn nhiều hai thứ tư lương phước đức trí tuệ, nhưng đối với sinh vô tánh, họ vẫn chưa như thật thấu triệt tướng vô tánh và hai thắng nghĩa vô tánh, nghĩa là đối với các hành, họ vẫn chưa chán ghét chính xác, chưa ly dục chính xác, chưa giải thoát chính xác, chưa giải thoát toàn thể hoặc tạp nhiễm, chưa giải thoát toàn thể nghiệp tạp nhiễm, chưa giải thoát toàn thể sinh tạp nhiễm, nên Như lai nói thêm pháp yếu cho họ về tướng vô tánh và thắng nghĩa vô tánh, v́ muốn làm cho họ đối với các hành có thể chán ghét chính xác, ly dục chính xác, giải thoát chính xác, vượt qua toàn thể hoặc tạp nhiễm, vượt qua toàn thể nghiệp tạp nhiễm, vượt qua toàn thể sinh tạp nhiễm; được nghe pháp yếu Như lai nói thêm cho như vậy, nên, đối với sinh vô tánh, họ có thể tin hiểu chính xác về tướng vô tánh và thắng nghĩa vô tánh, lựa lọc suy xét, thấu suốt chính xác, nghĩa là nơi y tha khởi tánh họ không c̣n chấp biến kế chấp tánh, cái trí không c̣n huân tập theo ngôn ngữ, không c̣n nhận thức theo ngôn ngữ, không c̣n liên tục theo ngôn ngữ, nên họ có thể hủy diệt y tha khởi tánh, ngay trong hiện tại họ được nắm giữ bởi sức mạnh của cái trí như trên nên vĩnh viễn diệt được cái nhân đời sau, tức là đối với các hành họ chán ghét chính xác, ly dục chính xác, giải thoát chính xác, giải thoát toàn thể hoặc, nghiệp, sinh, ba loại tạp nhiễm. Thắng nghĩa sinh, những người có chủng tánh đi theo Thanh văn thừa cũng do con đường và dấu đi này mà được niết bàn yên ổn tối thượng, những người có chủng tánh đi theo Độc giác thừa, những người có chủng tánh đi theo Như lai thừa, cũng do con đường và dấu đi này mà được niết bàn yên ổn tối thượng; tất cả các vị Thanh văn Độc giác Bồ tát cùng đi con đường sạch sẽ tinh tế và duy nhất này, cùng được sự thanh tịnh toàn hảo và duy nhất này, chứ không có con đường và sự thanh tịnh thứ hai, nên Như lai căn cứ sự thể ấy mà mật ư nói chỉ có Nhất thừa. Chứ không phải trong chúng sinh giới không có những chủng tánh khác nhau, hoặc độn căn, hoặc trung căn, hoặc lợi căn. Do vậy, nếu người có chủng tánh Thanh văn một chiều đi đến niết bàn, th́ dầu được ơn Phật thiết lập đủ cách cải hoán hướng dẫn cho họ tu hành dũng mănh đi nữa, cũng không bao giờ có thể làm cho họ sẽ ngồi nơi bồ đề tràng mà được vô thượng giác, tại sao, v́ họ vốn chỉ có chủng tánh thấp kém, một chiều từ bi bạc nhược, một chiều khiếp sợ khổ sở; v́ một chiều từ bi bạc nhược nên họ một chiều trái bỏ những công hạnh ích lợi chúng sinh, v́ một chiều khiếp sợ khổ sở nên họ một chiều trái bỏ những thệ nguyện phát khởi công hạnh, và Như lai không bao giờ nói những người một chiều trái bỏ công hạnh ích lợi chúng sinh và một chiều trái bỏ thệ nguyện phát khởi công hạnh sẽ được ngồi nơi bồ đề tràng và thành tựu vô thượng giác, nên Như lai gọi những người này là Thanh văn một chiều đi đến niết bàn. Nếu người có chủng tánh Thanh văn xoay lại hướng về bồ đề, th́ Như lai cũng dùng cách nói khác mà nói họ là Bồ tát, tại sao, v́ họ giải thoát phiền năo chướng rồi, khi được ơn Phật thức tỉnh cho, th́ đối với sở tri chướng họ cũng sẽ được giải thoát; chỉ bởi nguyên thỉ họ v́ tự lợi mà tu hành những cách giải thoát phiền năo chướng, nên Như lai nói họ là chủng tánh Thanh văn. Thắng nghĩa sinh, như thế đó, trong chánh pháp mà Như lai khéo tuyên thuyết, khéo qui định, và được nói ra bởi ư muốn cực kỳ trong sạch, vẫn có những nhận thức khác nhau của nhiều hạng người. Như lai vốn căn cứ ba vô tánh như trên, nhưng do mật ư sâu xa, nên trong những kinh nghĩa lư chưa hoàn hảo mà Như lai đă nói, Như lai nói pháp yếu theo cách nói kín đáo, rằng các pháp toàn không, không sinh không diệt, bản lai vắng bặt, tự tánh niết bàn. (Một), đối với kinh pháp như vậy (72) , người đă gieo trồng thiện căn thượng phẩm, đă làm sạch chướng ngại, đă thành thục liên tục, đă tu nhiều thắng giải, đă dồn chứa được hai thứ tư lương phước đức trí tuệ thượng phẩm, th́ nghe kinh pháp như vậy rồi, người ấy thấu hiểu đúng như sự thật lời nói mật ư sâu xa của Như lai: người ấy tin hiểu sâu xa kinh pháp như vậy, đối với nghĩa lư của kinh pháp như vậy người ấy dùng cái trí tuệ không đảo ngược mà thông suốt đúng như sự thật, rồi dựa vào sự thông suốt này mà khéo léo tu tập, nên mau chóng đạt đến sự cứu cánh cùng cực ; và đối với Như lai, người ấy phát sinh một cách sâu xa đức tin trong sáng, nhận thức Như lai là bậc ứng cúng, chánh biến giác, đă chánh biến giác tất cả các pháp. (Hai), người đă gieo trồng thiện căn thượng phẩm, đă làm sạch chướng ngại, đă thành thục liên tục, đă tu nhiều thắng giải, nhưng chưa dồn chứa được hai thứ tư lương phước đức trí tuệ thượng phẩm, mà tính họ chất trực, họ thuộc loại chất trực, dầu bất lực trong việc suy nghĩ chọn lựa những sự phế bỏ và thiết lập, họ vẫn không đứng yên trong sự cố thủ ư kiến của ḿnh; do đó, họ nghe kinh pháp như vậy rồi, dầu bất lực trong sự thấu hiểu đúng như sự thật lời nói mật ư sâu xa của Như lai, nhưng đối với kinh pháp như vậy họ vẫn có thắng giải, vẫn sinh đức tin trong sáng: tin rằng kinh pháp như vậy là do Như lai nói, là rất sâu xa, biểu lộ sự sâu xa, thích hợp đạo lư Không, khó thấy khó hiểu, không thể tầm tư, không phải lĩnh vực tầm tư biết thấu, mà là nhỏ nhiệm, xác thực, những người tuệ giác sáng suốt biết thấu; đối với nghĩa lư được nói trong kinh pháp như vậy th́ họ khiêm tốn mà tự nói rằng tuệ giác đức Thế tôn cực kỳ sâu xa, pháp tánh các pháp cũng cực kỳ sâu xa, chỉ đức Thế tôn mới thấu triệt một cách khéo léo chứ không phải là cái ḿnh hiểu nổi; đức Thế tôn thuyết pháp cho những người thắng giải khác nhau, thấy và biết của đức Thế tôn không có giới hạn, thấy và biết của ḿnh chỉ bằng lỗ chân trâu ḅ; đối với kinh pháp như vậy họ tôn kính như thế, và đem nói cho người, sao chép, bảo tồn, mở đọc, truyền bá, thiết tha, hiến cúng, học hỏi, tụng thuộc, ôn tập, nhưng chưa thể đem cái tu của ḿnh mà làm theo; do vậy, họ chưa thể thông suốt lời chữ của Như lai mật ư sâu xa nói ra, nhưng cũng do vậy mà họ vẫn tăng trưởng được hai thứ tư lương phước đức trí tuệ, và đời sau th́ thành thục được cái chưa thành thục. (Ba), người chưa gieo trồng thiện căn thượng phẩm, cho đến chưa dồn chứa được hai thứ tư lương phước đức trí tuệ thượng phẩm, tính không chất trực, không thuộc loại chất trực, dầu có sức lực trong việc suy nghĩ chọn lựa những sự phế bỏ và thiết lập, nhưng vẫn đứng yên trong sự cố thủ ư kiến của ḿnh, th́ họ nghe kinh pháp như vậy không thể thấu hiểu đúng như sự thật lời nói mật ư sâu xa của Như lai, dầu tin hiểu kinh pháp như vậy nhưng đối với nghĩa lư kinh pháp như vậy th́ chấp trước theo ngôn ngữ, cho các pháp quyết định toàn không, quyết định không sinh không diệt, quyết định bản lai vắng bặt, quyết định tự tánh niết bàn; do vậy, đối với các pháp, họ thấy không, thấy không tánh (72B) , v́ thấy không và thấy không tánh nên phủ nhận rằng các tánh đều không tánh, nghĩa là họ bài bác tất cả biến kế chấp tánh, y tha khởi tánh và viên thành thật tánh của các pháp -- tại sao biết họ bài bác tất cả, v́ có y tha khởi tánh và viên thành thật tánh mới thiết lập biến kế chấp tánh, nếu y tha khởi tánh và viên thành thật tánh mà thấy là không tánh cả th́ thế là bài bác cả biến kế chấp tánh, thế nên Như lai nói họ bài bác tất cả ba tánh -- và như thế th́ dẫu đối với kinh pháp của Như lai họ thấy là kinh pháp, nhưng đối với phi nghĩa lư họ thấy là nghĩa lư, v́ kinh pháp thấy là kinh pháp nhưng phi nghĩa lư thấy là nghĩa lư, nên họ nắm lấy kinh pháp làm kinh pháp và nắm lấy phi nghĩa lư làm nghĩa lư: họ tin hiểu kinh pháp nên phước đức tăng trưởng, nhưng chấp trước phi nghĩa lư nên trí tuệ lui mất, trí tuệ lui mất nên lui mất vô số thiện pháp quảng đại. Người nào nghe họ nói một cách cho kinh pháp là kinh pháp nhưng cho phi nghĩa lư là nghĩa lư, rồi chấp thuận kiến thức của họ th́ cũng cho kinh pháp là kinh pháp nhưng cho phi nghĩa lư là nghĩa lư, v́ cho kinh pháp là kinh pháp nhưng cho phi nghĩa lư là nghĩa lư nên, cũng như họ, người này lui mất thiện pháp. C̣n người nào không chấp thuận kiến thức của họ, nhưng đột nhiên nghe họ nói các pháp toàn không, không sinh không diệt, bản lai vắng bặt, tự tánh niết bàn, th́ sinh ra sợ hăi, sợ hăi như thế nên nói kinh pháp như vậy không phải Phật nói mà là ma nói; do nhận định này mà phỉ báng thóa mạ kinh pháp như vậy, do phỉ báng thóa mạ kinh pháp như vậy mà bị đại suy tổn, chạm đại nghiệp chướng, v́ thế, Như lai nói ai cho các tánh toàn là không tánh, nghĩa là lấy phi nghĩa lư làm nghĩa lư, th́ đó là phương cách tiện lợi nổi đại nghiệp chướng, v́ họ làm cho vô số chúng sinh phải bị sa đọa mà tạo đại nghiệp chướng. (Bốn), người chưa gieo trồng thiện căn, chưa làm sạch nghiệp chướng, chưa thành thục liên tục, không tu nhiều thắng giải, chưa dồn chứa hai thứ tư lương phước đức trí tuệ, tính không chất trực, không phải loại chất trực, dẫu có sức lực trong việc suy nghĩ chọn lựa những sự phế bỏ và thiết lập, nhưng thường đứng yên trong sự cố thủ kiến thức của ḿnh, th́ nghe kinh pháp như vậy họ không thể thấu hiểu đúng như sự thật về lời nói mật ư sâu xa của Như lai, cũng không tin hiểu kinh pháp như vậy, nên kinh pháp cho là phi kinh pháp, nghĩa lư cho là phi nghĩa lư; kinh pháp cho là phi kinh pháp và nghĩa lư cho là phi nghĩa lư, nên nói rằng kinh pháp như vậy không phải Phật nói mà là ma nói, và nhận định này làm cho họ phỉ báng thóa mạ kinh pháp như vậy là hư ngụy, bằng lắm cách, họ hủy diệt xô đổ kinh pháp như vậy, những ai tin hiểu kinh pháp như vậy th́ bị họ coi là kẻ thù; họ, trước kia bị nghiệp chướng làm cho chướng ngại, nay do lư do trên mà bị nghiệp chướng tiếp tục chướng ngại, và nghiệp chướng này mở đầu (có vẻ) giản dị, nhưng rồi (chịu khổ) trong thời kỳ bằng trăm ngàn câu chi na dữu đa (72C) , khó có lúc thoát khỏi. Thắng nghĩa sinh, như thế đó, trong chánh pháp mà Như lai khéo tuyên thuyết, khéo qui định, và được nói ra bởi ư muốn cực kỳ trong sạch, vẫn có những nhận thức khác nhau của nhiều hạng người như vậy. Bấy giờ đức Thế tôn muốn nói lại ư nghĩa đă nói nên nói những lời chỉnh cú sau đây. "Tất cả các pháp toàn là không cả, không sinh không diệt, bản lai vắng bặt, tự tánh các pháp vốn thường niết bàn", lời có trí này sao không mật ư (73) ? Tướng vô tự tánh, sinh vô tự tánh, nghĩa vô tự tánh, ba thứ như vậy Như lai căn cứ mà nói lời trên (73B) ; nếu không biết được mật ư Như lai, th́ mất đường chính, không đi đến đâu. Các vị trong sạch toàn do đường ấy; đường ấy duy nhất, không đường thứ hai, do sự thể này lập ra nhất thừa, không phải chúng sinh chủng tánh đồng nhất. Nên trong chúng sinh có vô số người chỉ đưa bản thân đi đến niết bàn, và thật hiếm có những ai đại bi tinh tiến dũng mănh chứng đại niết bàn không hề bỏ rơi hết thảy chúng sinh. Trong vô lậu giới nhiệm mầu nan tư, th́ sự giải thoát thật là đồng đẳng, hoàn thành chân thật, thoát ly khổ năo, nên c̣n được gọi hai cách gọi khác, hoặc gọi là thường, hoặc gọi là lạc. Lúc ấy đại bồ tát Thắng nghĩa sinh thưa Phật: bạch đức Thế tôn, ngôn ngữ mật ư của đức Thế tôn thật rất kỳ lạ, rất hiếm có, cho đến tinh tế và rất tinh tế, sâu xa và rất sâu xa, khó thấu triệt và rất khó thấu triệt. Nay, theo ư nghĩa của đức Thế tôn nói mà con tiếp nhận lư giải, th́ nơi các hành của phân biệt biết đến và biến kế dựa vào (74) mà giả danh thiết lập làm tự tánh và sai biệt của sắc uẩn, giả danh thiết lập làm tự tánh và sai biệt của sắc uẩn phát sinh, của sắc uẩn diệt tận, của vĩnh đoạn sắc uẩn, của biến tri sắc uẩn, (sự giả danh thiết lập ấy) gọi là biến kế chấp tánh, và đức Thế tôn căn cứ biến kế chấp tánh như vậy mà thiết lập tướng vô tánh; c̣n chính các hành của phân biệt biết đến và biến kế dựa vào th́ gọi là y tha khởi tánh, và đức Thế tôn căn cứ y tha khởi tánh như vậy mà thiết lập sinh vô tánh và một phần của thắng nghĩa vô tánh; và cứ như thế, theo ư nghĩa của đức Thế tôn nói mà con tiếp nhận lư giải, th́ chính nơi các hành của phân biệt biết đến và biến kế dựa vào mà (thấy) biến kế chấp tánh không thật có: cái tánh không thật có biến kế chấp tánh này, tức chân như do pháp vô ngă hiển lộ và là thanh tịnh sở duyên này, gọi là viên thành thật tánh, và đức Thế tôn căn cứ viên thành thật tánh như vậy mà thiết lập một phần nữa của thắng nghĩa vô tánh. Như đối với sắc uẩn (được nói như vậy) th́ đối với các uẩn khác cũng nên nói rơ như vậy; như đối với năm uẩn (được nói như vậy) th́ đối với mười hai xứ mỗi xứ cũng nên nói rơ như vậy, đối với mười hai hữu chi mỗi hữu chi cũng nên nói rơ như vậy, đối với bốn thực mỗi thực cũng nên nói rơ như vậy, đối với (ba lần) sáu giới tức mười tám giới mỗi giới cũng nên nói rơ như vậy. Nay, theo ư nghĩa của đức Thế tôn nói mà con tiếp nhận lư giải, th́ nơi các hành của phân biệt biết đến và biến kế dựa vào mà giả danh thiết lập làm tự tánh và sai biệt của khổ đế và của biến tri khổ đế, (sự giả danh thiết lập ấy) gọi là biến kế chấp tánh, và đức Thế tôn căn cứ biến kế chấp tánh như vậy mà thiết lập tướng vô tánh; c̣n chính các hành của phân biệt biết đến và biến kế dựa vào th́ gọi là y tha khởi tánh, và đức Thế tôn căn cứ y tha khởi tánh như vậy mà thiết lập sinh vô tánh và một phần của thắng nghĩa vô tánh; và cứ như thế, theo ư nghĩa của đức Thế tôn nói mà con tiếp nhận lư giải, th́ chính nơi các hành của phân biệt biết đến và biến kế dựa vào mà (thấy) biến kế chấp tánh không thật có: cái tánh không thật có biến kế chấp tánh này, tức chân như do pháp vô ngă hiển lộ và là thanh tịnh sở duyên này, gọi là viên thành thật tánh, và đức Thế tôn căn cứ viên thành thật tánh như vậy mà thiết lập một phần nữa của thắng nghĩa vô tánh. Như đối với khổ đế (được nói như vậy) th́ đối với các đế khác cũng nên nói rơ như vậy; như đối với bốn đế (được nói như vậy) th́ đối với bốn niệm trú, bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy giác chi và tám đạo chi, mỗi thứ cũng nên nói rơ như vậy. Nay, theo ư nghĩa của đức Thế tôn nói mà con tiếp nhận lư giải, th́ nơi các hành của phân biệt biết đến và biến kế dựa vào mà giả danh thiết lập làm tự tánh và sai biệt của chánh định, của các sự của chánh định là năng trị, sở trị, chính tu chưa sinh th́ phát sinh, đă sinh th́ kiên cố, bội tu th́ cao lên và rộng ra, (sự giả danh thiết lập ấy) gọi là biến kế chấp tánh, và đức Thế tôn căn cứ biến kế chấp tánh như vậy mà thiết lập tướng vô tánh; c̣n chính các hành của phân biệt biết đến và biến kế dựa vào th́ gọi là y tha khởi tánh, và đức Thế tôn căn cứ y tha khởi tánh như vậy mà thiết lập sinh vô tánh và một phần của thắng nghĩa vô tánh; và cứ như thế, theo ư nghĩa của đức Thế tôn nói mà con tiếp nhận lư giải, th́ chính nơi các hành của phân biệt biết đến và biến kế dựa vào mà (thấy) biến kế chấp tánh không thật có: cái tánh không thật có biến kế chấp tánh này, tức chân như do pháp vô ngă hiển lộ và là thanh tịnh sở duyên này, gọi là viên thành thật tánh, và đức Thế tôn căn cứ viên thành thật tánh như vậy mà thiết lập một phần nữa của thắng nghĩa vô tánh. Bạch đức Thế tôn, như thuốc tỳ thấp phược (75) th́ nên để khắp trong các phương thuốc tán và thuốc tiên; tương tự như vậy, "do ba vô tánh nên các pháp toàn không, không sinh không diệt, bản lai vắng bặt, tự tánh niết bàn", pháp thoại mà nghĩa lư đă hoàn hảo này nên để vào khắp trong các kinh nghĩa lư chưa hoàn hảo. Như bột vẽ màu (76) th́ có khắp trong tất cả nét vẽ, làm cho những nét vẽ ấy đều cùng một màu hoặc xanh hoặc vàng hoặc đỏ hoặc trắng, lại làm cho rơ ra những nét vẽ ấy ; tương tự như vậy, "do ba vô tánh nên các pháp toàn không cho đến tự tánh niết bànở, pháp thoại mà nghĩa lư đă hoàn hảo này có khắp trong tất cả các kinh nghĩa lư chưa hoàn hảo, làm cho các kinh ấy cùng một ư vị, lại làm cho rơ ra nghĩa lư chưa hoàn hảo trong các kinh ấy (77) . Như những thực phẩm bánh trái đă chín và quí mà bỏ sữa chín vào th́ càng thêm mùi vị đặc biệt; tương tự như vậy, "do ba vô tánh nên các pháp toàn không cho đến tự tánh niết bàn", pháp thoại mà nghĩa lư đă hoàn hảo này đặt vào các kinh nghĩa lư chưa hoàn hảo th́ càng làm sinh ra nỗi thích thú siêu việt. Như hư không th́ khắp nơi đều cùng mọẤt đặc tính, ấy là không trở ngại mọi sự việc; tương tự như vậy, "do ba tự tánh nên các pháp toàn không cho đến tự tánh niết bàn", pháp thoại mà nghĩa lư đă hoàn hảo này th́ khắp trong các kinh nghĩa lư chưa hoàn hảo đều cùng một đặc tính, ấy là không trở ngại việc tu của Thanh văn Độc giác và Đại thừa. Đại bồ tát Thắng nghĩa sinh thưa như vậy rồi, đức Thế tôn bảo ngài: Tốt lắm, Thắng nghĩa sinh, ông khéo lư giải về ư nghĩa của lời nói mật ư rất sâu xa mà Như lai đă nói. Ông lại khéo ví dụ về ư nghĩa ấy, ví như thuốc tỳ thấp phược, như bột vẽ màu, như sữa chín, như hư không. Thắng nghĩa sinh, đúng như vậy, đúng như ông nói chứ không có ǵ khác hơn nữa. Ông hăy tiếp nhận và lư giải đúng như vậy. Bấy giờ đại bồ tát Thắng nghĩa sinh lại thưa Phật: bạch đức Thế tôn, xưa kia, trong thời kỳ đầu tiên, khi ở trong rừng Ban cho loài nai, chỗ tiên nhân Ba la niệt tư sa xuống (78) , đức Thế tôn chỉ v́ những vị xu hướng Thanh văn thừa, căn cứ đạo lư tứ đế mà chuyển pháp luân, tuy rất lạ, rất hiếm, bao nhiêu người trời trong thế giới không ai chuyển được đúng cách, nhưng pháp luân được chuyển trong thời kỳ này vẫn có cái trên nữa, vẫn chịu đựng đả phá, là nghĩa lư chưa hoàn hảo, là nơi đặt chân của sự tranh luận. Kế đó, trong thời kỳ thứ hai, đức Thế tôn chỉ v́ những vị xu hướng Đại thừa, căn cứ đạo lư "các pháp toàn không, không sinh không diệt, bản lai vắng bặt, tự tánh niết bàn", dùng sự ẩn mật mà chuyển pháp luân, tuy càng rất lạ, càng rất hiếm, nhưng pháp luân được chuyển trong thời kỳ này vẫn c̣n có cái trên nữa, vẫn c̣n chịu đựng đả phá, vẫn là nghĩa lư chưa hoàn hảo, vẫn là nơi đặt chân của sự tranh luận. C̣n nay, trong thời kỳ thứ ba, đức Thế tôn khắp v́ các vị xu hướng Nhất thế thừa (79) , căn cứ đạo lư "do ba vô tánh nên các pháp toàn không, không sinh không diệt, bản lai vắng bặt, tự tánh niết bàn", dùng sự minh bạch mà chuyển pháp luân, càng rất lạ nhất, càng rất hiếm nhất, và pháp luân được chuyển hiện nay không c̣n có cái ǵ trên nữa, không c̣n chịu đựng sự đả phá nào nữa, nghĩa lư đích thực hoàn hảo, không c̣n là nơi đặt chân của sự tranh luận. Bạch đức Thế tôn, đối với pháp thoại rất sâu xa và rất hoàn hảo của đức Thế tôn căn cứ đạo lư "do ba vô tánh nên các pháp toàn không, không sinh không diệt, bản lai vắng bặt, tự tánh niết bàn" mà nói ra đây, nếu thiện nam hay thiện nữ nào nghe rồi tin hiểu, sao chép, bảo tồn, hiến cúng, truyền bá, học hỏi, tụng thuộc, tu tập, tư duy đúng lư, và đem sự tu của ḿnh mà nỗ lực tu tập, th́ phát sinh được bao nhiêu phước đức? Đại bồ tát Thắng nghĩa sinh thưa như vậy rồi, đức Thế tôn dạy ngài: Thắng nghĩa sinh, thiện nam hay thiện nữ như vậy được phước vô số vô lượng, khó thể đối chiếu và nhận thức. Như lai nay chỉ nói cho ông một phần nhỏ. Đất nơi móng tay mà so sánh với đất cả đại địa th́ không bằng một phần trăm, không bằng một phần ngàn, không bằng một phần trăm ngàn, không bằng một phần sổ, toán, kế, dụ, ô ba ni sát đàm (80) . Nước trong lỗ chân trâu ḅ mà so sánh với nước cả bốn đại dương th́ không bằng một phần trăm, cho đến không bằng một phần ô ba ni sát đàm. Tương tự như vậy, đối với các kinh nghĩa lư chưa hoàn hảo mà nghe rồi tin hiểu, cho đến đem sự tu của ḿnh mà nỗ lực tu tập, cái phước như vậy đem so sánh với cái phước nghe rồi tin hiểu, cho đến đem cái tu của ḿnh mà nỗ lực tu tập đối với pháp thoại nghĩa lư đă hoàn hảo này, th́ không bằng một phần trăm, cho đến không bằng một phần ô ba ni sát đàm. Khi đức Thế tôn dạy như vậy rồi, đại bồ tát Thắng nghĩa sinh lại thưa Ngài: bạch đức Thế tôn, trong toàn bộ pháp thoại Giải thâm mật, pháp thoại này nên mệnh danh là ǵ? chúng con phải kính cẩn ghi nhớ như thế nào? Đức Thế tôn dạy: Thắng nghĩa sinh, pháp thoại này tên là Nghĩa lư hoàn hảo về thắng nghĩa. Ông hăy kính cẩn ghi nhớ theo cái tên như vậy. Khi đức Thế tôn nói pháp thoại Nghĩa lư hoàn hảo về thắng nghĩa này th́ trong đại hội có sáu trăm ngàn chúng sinh phát tâm vô thượng bồ đề; ba trăm ngàn Thanh văn lánh xa bụi bặm, tách rời dơ bẩn, đối với các pháp th́ được mắt pháp trong sáng; một trăm năm mươi ngàn Thanh văn hết hẳn mọi sự sơ hở (81) , tâm được giải thoát; bảy mươi lăm ngàn Bồ tát được vô sinh pháp nhẫn.
Phần ghi chú
Ghi Chú (50) Tâm thức: nói đủ là Tâm ư thức tướng (sắc thái của tâm ư thức). Tâm ư thức thường nói có 2 nghĩa: có khi 3 chữ là 1 nghĩa, có khi 3 chữ là 3 nghĩa. Tâm ư thức, 3 chữ ấy cùng một nghĩa th́ không cần phải nói. Tâm ư thức, 3 chữ ấy là 3 nghĩa th́ tâm là a lại da, ư là mạt na, thức là 6 thức, tổng cọng có 8 thức. Nhưng thực ra 6 thức là nhận thức mà chỉ như những thông tín viên nhận tin và phát tin ở khắp các cảm quan. C̣n ư thức rằng đó là nhận thức của ḿnh, tức tự ư thức về tự ngă mà từ đó năng sở hóa tâm vật hoặc tự tha hóa ḿnh người, lại tùy c̣n hay mất ư thức tự ngă mà thành ra ô nhiễm hay thanh tịnh, th́ đó là mạt na. Nhưng căn bản của toàn bộ các thức nói trên, kể cả mọi đối tượng chất cũng như ảnh của các thức ấy, th́ đó là a lại da. Nói cách khác, các pháp là biểu hiện của a lại da. A lại da chính là Tâm, tuy là con mà đang làm giặc, tuy đang làm giặc mà vốn là và vẫn là con. Nên cái tiêu đề Tâm ư thức, hay gọi tắt là Tâm thức, thực ra có nghĩa là nói về Tâm và về ư với thức của Tâm, dẫu rằng chính văn ẩn lược mạt na. Ghi Chú (51) Khéo biết mật nghĩa: chính văn là bí mật thiện xảo, dịch sát th́ phải là khéo léo về bí mật. Ghi Chú (52) Hai câu hỏi này phải coi sự trả lời của Phật ở dưới mới hiểu và thấy khác nhau thế nào. Ghi Chú (53) Chúng sinh chết ở thế giới nào rồi sinh vào thế giới nào: là nói luân rồi. Nhưng không phải có một linh hồn bỏ chỗ này sinh chỗ khác, chết đời này sinh đời khác. Mười phương thế giới toàn là Tâm, nghiệp báo này hết th́ gọi là chết, nghiệp báo khác sinh th́ gọi là sinh, tựa như miếng sáp in dấu ấn: dấu ấn kia mất đi th́ dấu ấn này nổi lên, thế thôi. Ghi Chú (53B) Sự sống ấy ... lớn lên: Sinh mạng của mọi loài chúng sinh có 4 giai đoạn gọi là 4 hữu: sinh hữu (sát na kiết sinh đầu tiên) bản hữu (trưởng thành trong thai và sinh ra sống c̣n một đời) tử hữu (sát na chết hẳn cuối cùng) trung hữu (sự liên tục giữa tử hữu và sinh hữu). Rồi trung hữu lại sinh hữu, luân chuyển vô cùng cho đến địa vị không c̣n đời sau (La hán) hay sinh chết tự do (Bồ tát). Đầu tiên ở đây là sinh hữu chứ không phải sinh mạng có khởi điểm. Chủng tử thức vốn đă thành thục là chủng tử thức chuyển thành dị thục thức (nghiệp thức). Triển chuyển hóa hợp là hóa hợp với phụ tinh mẫu huyết, và đó là sinh hữu. Tuần tự lớn lên là bản hữu, có 8 thời kỳ: ở thai, ra thai, hài nhi, đồng ấu, thiếu niên, trung niên, trưởng niên và lăo mạo. Ghi Chú (54) Với hai sự ... mà có: Chấp thọ các sắc căn và sở y của các sắc căn là chấp thọ thân thể và thế giới của thân thể. Chấp thọ chủng tử của tướng, danh và phân biệt, loại chủng tử do ngôn từ hư luận mà có, là chấp thọ chủng tử hữu lậu. Tướng danh và phân biệt là tướng phần và kiến phần thuộc giai đoạn hữu lậu. Thường nói các pháp th́ chính chữ pháp nghĩa là khái niệm (chứ không có tự tánh); mỗi pháp là một khái niệm, và khái niệm này phân tách mà nói th́ là nhận thức của đối tượng và đối tượng của nhận thức, nhưng thật ra 2 phần này là nhận thức hóa đối tượng và đối tượng hóa nhận thức, h́nh thành lẫn nhau và toàn là nhận thức. Trong đối tượng của nhận thức gồm có đối tượng (tướng) và sự biểu thị của nó (danh), cùng với nhận thức của đối tượng nữa (phân biệt), như vậy, toàn là sự biểu hiện đồng nghĩa với sự hư luận, nên gọi là ngôn từ hư luận. Ghi Chú (55) Coi ghi chú 57 . Ghi Chú (56) Những danh và nghĩa này cho thấy nên nói bản thức là chủ thể của thức (và của tất cả) hơn nói nó cũng là một thức. Ghi Chú (57) Coi lại ghi chú 50 . Như đă nói ở đó, kinh này ẩn lược mạt na; nhưng trong sinh hữu và bản hữu, nói a lại da chấp thọ là nói mọi sự hữu ấy là mọi sự biểu hiện của a lại da, chứ ư thức mọi sự hữu ấy làm tự ngă th́ chính là mạt na. Mặt khác, mạt na điều phối 6 thức là điều phối theo ư thức tự ngă của nó, mạt na ư thức a lại da là ư thức càng theo ư thức tự ngă của nó (và đó là trong giai đoạn mê, trong giai đoạn ngộ th́ theo ư thức vô ngă của nó), nhưng cả đoạn nhỏ có ghi chú 55 và đoạn nhỏ này đều ẩn lược mạt na. Lư do ẩn lược chính là v́ ư thức tự ngă ấy. Ghi Chú (58) Trí pháp trú: Hữu bộ nói là cái trí biết nhân (trú) của quả (pháp), Kinh bộ nói là cái trí biết pháp thường trú, Đại thừa nói là cái trí biết sự thiết lập của các pháp môn. Đại thừa nói sát và đúng hơn. Ghi Chú (59) Đúng như sự thật mà không thấy: đúng như thắng nghĩa đế mà thấy chứ không như thế tục đế mà thấy, th́ không thấy như cái thấy b́nh thường là thấy ǵ cũng theo ư tưởng b́nh thường, mà là thấy chân như thắng nghĩa của các pháp. Ghi Chú (59B) Có thể đổi ví dụ mà nói như những phân tử li ti phát ra một cách rất mau chóng nên tạo thành h́nh ảnh trên màn ảnh, chủng tử hiện hành thành thân tâm và thế giới th́ cũng tương tự như vậy. Ghi Chú (60) Tự tánh: Chính văn là nhất thế pháp tướng (sắc thái của các pháp), tức nói về 3 tự tánh. Ba tự tánh là quan sát mọi mặt của mỗi pháp hữu vi mà nói, chứ không phải có riêng ngoài mỗi pháp ấy. Ba tự tánh có thể nói và ví dụ vắn tắt như vầy, theo Phật học đại từ điển (trang 307). Một, biến kế là ảo trạng của phàm phu ngộ nhận, như ngộ nhận sợi giây là con rắn; biến kế này chính là ngă pháp do phàm phu vọng chấp mà có. Hai, y tha là do yếu tố mà có, như sợi giây do chỉ gai và mọi sự hỗ trợ mà thành; y tha này chính là các pháp hữu vi, do chủng tử nơi a lại da nhờ các trợ duyên mà hiện hành. Ba, viên thành là thực thể của các pháp hữu vi, như thực chất của sợi giây là chất chỉ gai; viên thành này chính là pháp tánh chân như, do tuệ giác chứng ngộ. Cũng nên ghi chú rằng, nói pháp tánh tùy duyên mà thành các pháp y tha th́ được coi là nghĩa thật, nói pháp tánh làm bản thể mà có các pháp y tha th́ được gọi là nghĩa tạm. Ba tự tánh như vậy, tánh có nghĩa là có, nhưng mỗi tánh có mỗi cách: biến kế là vọng hữu (có một cách sai lầm) y tha là giả hữu (có một cách tương đối) viên thành là thật hữu (có một cách đích thực). Ghi Chú (60B) Tự tướng và sai biệt: Ở đây có nghĩa là đặc tính (hay bản thân) và chi tiết. Riêng chi tiết th́ chính là trừu tượng nơi các hiện tượng, v́ chúng giống nhau (nên cũng gọi là cọng tướng). Ghi Chú (61) Nhuộm màu xanh: Cũng có thể dịch hiêểp với màu xanh, để trong màu xanh. Để trong màu xanh là lời Ngụy dịch. Những chữ nhuộm ở dưới cũng vậy. Ghi Chú (61B) Có thể dịch như vầy cho dễ hiểu: cái viên thành thật tánh cũng như vầy -- cái viên thành thật tánh mà biến kế chấp tánh luôn luôn và vĩnh viễn không thật có và không đặc tính. Ghi Chú (62) Dịch sát là "th́ hủy diệt chứng đắc sự thanh tịnh" Ghi Chú (62B) Trú pháp động pháp: niết bàn thường trú, sinh tử biến động. Ghi Chú (63) Đă không lại có: đă không niết bàn, lại có sinh tử. Ghi Chú (64) Vô tánh: Chính văn là vô tự tánh tướng (sắc thái vô tánh của các pháp), tức nói 3 vô tánh, cũng gọi là 3 vô tự tánh tánh. Ghi Chú (65) Thắng nghĩa vô tánh là thế nào ... gọi là thắng nghĩa vô tánh: Ghi chú câu này có 3 chi tiết. Chi tiết một, thắng nghĩa vô tánh có 2: thứ nhất, y tha không phải thắng nghĩa nên cũng gọi là thắng nghĩa vô tánh; thứ hai, viên thành do pháp không hiển lộ nên gọi là thắng nghĩa vô tánh. Nói cách khác cho dễ hiểu, thắng nghĩa không phải như y tha (v́ y tha không phải thắng nghĩa) thắng nghĩa càng không phải là biến kế (v́ biến kế là ngă pháp, ngă pháp không đi mới hiển lộ thắng nghĩa). Chi tiết hai, chữ pháp vô ngă trong câu này chính văn là nhất thế chư pháp pháp vô ngă tánh (sau đây chính văn chỉ nói pháp vô ngă tánh). Chính văn như vậy phải dịch pháp vô ngă chứ không thể dịch sự vô ngă của các pháp. Nhưng pháp vô ngă (= pháp không) th́ đă bao gồm nhân vô ngă (đúng ra nên nói ngă vô ngă = ngă không), v́ được pháp vô ngă th́ đă được nhân vô ngă rồi. Thắng nghĩa vô tánh là thắng nghĩa do nhân vô ngă và pháp vô ngă hiển lộ, nên Duy thức luận, tụng thứ 24, nói hậu do viễn ly tiền sở chấp ngă pháp tánh. Chi tiết ba, cái được 2 vô ngă hiển lộ là thắng nghĩa (chân như), được gọi là thanh tịnh sở duyên. Thanh tịnh sở duyên: coi lại ghi chú 47 . Ghi Chú (66) Ví dụ này là nói mặt vô tánh, mặt không. Chứ thắng nghĩa vô tánh (tức viên thành thật tánh) nên như phẩm bốn đă ví dụ như cảnh vật không thác loạn mà mắt sáng nh́n thấy. Ghi Chú (67) Như ngôn ngữ nổi lên thế nào th́ cũng như thế ấy: dịch rơ là như ngôn ngữ nổi lên thế này hay nổi lên thế khác th́ cũng như thế này hay thế khác. Ghi Chú (67B) Liên tục trong tâm: chính văn là tùy miên, chữ này ở đây chỉ có nghĩa như đă dịch. Ghi Chú (68) Tăng thêm biến kế chấp tánh: câu này, ở đây cũng như ở dưới, đúng chính văn th́ phải dịch chấp trước biến kế chấp tánh. Nhưng dịch như vậy không ăn với chữ tăng thêm (tăng ích) đă nói ở trên. Mà tăng thêm th́ đúng hơn. Ghi Chú (68B) Như biến kế chấp tánh thế nào th́ cũng như thế ấy: dịch rơ là như biến kế chấp tánh thế này hay thế khác th́ cũng như thế này hay thế khác. Ghi Chú (69) Nại lạc ca: Dịch là địa ngục th́ chỉ v́ mượn ư niệm địa ngục của Tàu. Dịch đúng là vô lạc (thế giới không vui) hay bất khả cứu tế (thế giới khó cứu vớt). Ghi Chú (70) Chướng ngại: Ở đây là những sự chướng ngại cho thiện căn, trong đó có nghiệp chướng và báo chướng. Ghi Chú (71) Chưa thành thục liên tục: chưa thành thục thiện căn một cách liên tục sau khi gieo trồng. Ghi Chú (72) Kinh pháp như vậy: ở đây, và trọn đoạn nhỏ này, từ ngữ này chỉ cho kinh nghĩa lư chưa hoàn hảo (vị liễu nghĩa kinh). Kinh là kinh ấy, pháp là "các pháp toàn không" trong kinh ấy. Hiểu là kinh Giải thâm mật th́ không xuôi văn ư. Ghi Chú (72B) Thấy không, thấy không tánh: Không tánh, đúng chính văn là không tướng. Nhưng tướng ở đây là dị danh của chữ tánh trong 3 tự tánh và 3 vô tánh. Chính 3 tự tánh và 3 vô tánh, chính văn cũng có chỗ, như trong đoạn nhỏ này, gọi là tướng cả. Thấy 3 tự tánh và 3 vô tánh đều không cả th́ đó là ác thủ không (hiểu Không một cách sai lầm, tai hại). Ghi Chú (72C) 10 lần một là mười, cho đến 10 lần vạn là ức (lạc xoa), 10 lần ức là triệu (độ lạc xoa), 10 lần triệu là mười triệu (câu chi), 10 lần mười triệu là trăm triệu (mạt đà), 10 lần trăm triệu là tỉ (a dữu đa), 10 lần tỉ là mười tỉ (đại a dữu đa), 10 lần mười tỉ là trăm tỉ (na dữu đa). Trăm ngàn câu chi na dữu đa là số 1 với 23 số 0 tiếp theo. Ghi Chú (73) Lời có trí này sao không mật ư: sát chính văn th́ là ai có trí bảo không mật ư. Dịch như vậy không bằng dịch như đă dịch. Ghi Chú (73B) Ba thứ như vậy, Như lai căn cứ mà nói lời trên: sát chính văn là 3 thứ như vậy Như lai đă nói rơ. Dịch như vậy cũng không bằng như đă dịch. Ghi Chú (74) Các hành của phân biệt biết đến và biến kế dựa vào: Đây là một danh từ, có nghĩa là các hành mà cái biết biết đến và cái chấp dựa vào. Như vậy có thể chỉ cần nói các hành cũng đủ. Các hành: coi lại ghi chú 38. Ghi Chú (75) Tỳ thấp phược: 1 loại thần dược làm cho thuốc khác được thần hiệu. Ghi Chú (76) Bột vẽ màu: sát chính văn là đất vẽ màu (thể họa địa). Ghi Chú (77) Lại làm ... các kinh ấy: làm cho mật ư trong các kinh bất liễu nghĩa được rơ ra. Ghi Chú (78) Rừng Ban cho ... sa xuống: tức Lộc uyển thường nói. Ghi Chú (79) Nhất thế thừa: cỗ xe đủ cả. Nhất thừa bao gồm cả 3 thừa nên có tên như vậy. Ghi Chú (80) Sổ, toán, kế, dụ, ô ba ni sát đàm: sổ toán kế dụ th́ hăy tham khảo Vạn 34/416. C̣n ô ba ni sát đàm th́ Ấn có 60 cấp về số (Tàu có 15), cấp cuối cùng là ô ba ni sát đàm. Ghi Chú (81) Sự sơ hở: là các lậu, dị danh của phiền năo. Dịch thật sát là sự rỉ lọt.
Minh Quang posted December 6, 2005
|
|
|