Chùa Hải-Đức in Jacksonville

[Home] [Up] [Điểm Sách] [Sutras] [Dharma Talks] [GĐPT] [Sinh Hoạt] [Our Activities] [Kinh] [Pháp Thoại audio mp3] [Tin Tức Phật Giáo] [Thuyết Pháp] [Thơ Văn] [Ngoại Điển] [Phật Học] [Tụng Kinh] [Nghi Lễ - Rituals]

 

VI. PHẨM BẤT TƯ NGHỊ (1)

 

Lúc bấy giờ ngài Xá Lợi Phất thấy trong nhà ông Duy Ma Cật không có giường ngồi (bàn ghế) chi hết, mới nghĩ rằng: các Bồ Tát và hàng Đại đệ tử đây sẽ ngồi nơi đâu?

Trưởng giả Duy Ma Cật biết được ư đó, liền nói với ngài Xá Lợi Phất rằng:

- Thế nào, Nhân giả v́ pháp mà đến, hay v́ giường ngồi mà đến?

Ngài Xá Lợi Phất nói:

- Tôi v́ Pháp mà đến, chớ không phải v́ giường ngồi.

Ông Duy Ma Cật nói:

- Ngài Xá Lợi Phất! Vả chăng người cầu pháp, thân mạng c̣n không tham tiếc, huống chi là giường ngồi. Vả người cầu pháp không phải có sắc, thọ, tưởng, hành, thức (năm uẩn) mà cầu; không phải có giới (18 giới), nhập (12 nhập) mà cầu; không phải có dục giới, sắc giới, vô sắc giới (ba cơi) mà cầu - Ngài Xá Lợi Phất! Vả chăng người cầu pháp không đắm trước nơi Phật mà cầu, không đắm trước nơi Pháp mà cầu, không đắm trước nơi chúng (tăng) mà cầu. Vả người cầu pháp không thấy khổ mà cầu, không đoạn tập mà cầu, không đến chứng diệt, tu đạo mà cầu. V́ sao? - V́ pháp không hư luận (2) Nếu nói: ta phải thấy khổ, đoạn tập, chứng diệt, tu đạo, đó là hư luận không phải cầu pháp - Ngài Xá Lợi Phất! Pháp là tịch diệt, nếu thật hành pháp sanh diệt là cầu pháp sanh diệt, không phải cầu pháp. Pháp là không nhiễm, nếu nhiễm nơi pháp cho đến Niết bàn, đó là nhiễm đắm, không phải cầu pháp. Pháp không chỗ làm, nếu làm nơi pháp, đó là chỗ làm không phải cầu pháp. Pháp không thủ xả, nếu thủ xả pháp, đó là thủ xả, không phải cầu pháp. Pháp không xứ sở, nếu chấp trước xứ sở, đó là chấp trước nơi xứ sở không phải cầu pháp. Pháp không có tướng, nếu nhân tướng mà biết, đó là cầu tướng không phải cầu pháp. Pháp không thể trụ, nếu trụ nơi pháp, đó là trụ nơi pháp không phải cầu pháp. Pháp không thể thấy, nghe, hay, biết, nếu làm theo thấy, nghe, hay, biết, đó là thấy nghe hay biết không phải cầu pháp. Pháp là vô vi, nếu làm hữu vi là cầu hữu vi không phải cầu pháp. V́ thế, Ngài Xá Lợi Phất, nếu người cầu pháp, đối với tất cả pháp, không có cầu đến.

Khi ông Duy Ma Cật nói lời ấy rồi, năm trăm vị Thiên tử ở trong các pháp được pháp nhăn thanh tịnh.

Bấy giờ Trưởng giả Duy Ma Cật hỏi ngài Văn Thù Sư Lợi rằng:

- Thưa Ngài, Ngài dạo đi trong vô lượng ngh́n muôn ức a tăng kỳ (3) (vô số) quốc độ, thấy cơi Phật nào có những ṭa Sư tử tốt đẹp thượng diệu do công đức tạo thành?

Ngài Văn Thù Sư Lợi nói:

- Cư sĩ! Về phương đông cách đây khỏi ba mươi sáu số cát sông Hằng (4) cơi Phật, có thế giới tên Tu Di Tướng, đức Phật ở thế giới ấy hiệu là Tu Di Đăng Vương, hiện vẫn c̣n. Thân Phật cao tám muôn bốn ngh́n do tuần (5), ṭa Sư tử cũng cao như thế, trang nghiêm tốt đẹp bực nhứt.

Lúc ấy, Trưởng giả Duy Ma Cật hiện sức thần thông, tức thời đức Phật ở cơi nước kia điều khiển ba vạn hai ngh́n ṭa Sư tử cao rộng nghiêm sạch đến trong nhà ông Duy Ma Cật. Các Bồ Tát, Đại đệ tử, Đế Thích, Phạm Thiên, Tứ Thiên Vương tất cả đều thấy việc xưa nay chưa từng thấy.

Nhà ông Duy Ma Cật rộng răi trùm chứa cả ba vạn hai ngh́n ṭa Sư tử không ngăn ngại, mà ở nơi thành Tỳ Da Ly cho đến bốn thiên hạ cơi Diêm Phù Đề cũng không bị ép chật, tất cả đều thấy y nguyên như thế.

Ông Duy Ma Cật mời ngài Văn Thù Sư Lợi và các Bồ Tát thượng nhơn ngồi nơi ṭa Sư tử, song phải hiện thân ḿnh đứng cao bằng ṭa kia. Tức thời các Bồ Tát có thần thông liền biến hiện thân h́nh cao bốn muôn hai ngh́n do tuần đến ngồi nơi ṭa Sư tử, c̣n các Bồ Tát mới phát tâm và hàng Đại đệ tử đều không lên được.

Lúc đó, ông Duy Ma Cật mời ngài Xá Lợi Phất lên ṭa Sư tử ngồi.

Ngài Xá Lợi Phất đáp:

- Thưa Cư sĩ! Ṭa này cao rộng quá tôi không lên được.

Ông Duy Ma Cật nói:

- Ngài Xá Lợi Phất, phải đảnh lễ đức Tu Di Đăng Vương Như Lai mới có thể ngồi được.

Khi ấy, các vị Bồ Tát mới phát tâm và hàng Đại đệ tử đều đảnh lễ đức Tu Di Đăng Vương Như Lai, rồi ngồi được ngay nơi ṭa Sư tử.

Ngài Xá Lợi Phất nói:

- Thưa Cư sĩ! Thật chưa từng có. Như cái nhà nhỏ tí này mà dung được các ṭa cao rộng như thế, mà nơi thành Tỳ Da Ly không có ngăn ngại, các tụ lạc, thành ấp, cùng những cung điện chư Thiên, Long Vương, quỉ thần trong bốn thiên hạ ở cơi Diêm Phù Đề cũng không ép chật.

Ông Duy Ma Cật nói:

- Ngài Xá Lợi Phất! Chư Phật và chư Bồ Tát có pháp "giải thoát" tên là "bất khả tư nghị". Nếu Bồ Tát trụ nơi pháp giải thoát đó, lấy núi Tu di rộng lớn nhét vào trong hột cải vẫn không thêm bớt, h́nh núi Tu di vẫn y nguyên, mà trời Tứ Thiên vương và Đạo Lợi thiên vương không hay không biết đă vào đấy, chỉ có những người đáng độ được mới thấy núi Tu di vào trong hột cải, đó là pháp môn "bất khả tư nghị giải thoát". Lại lấy nước bốn biển lớn cho vào trong lỗ chưn lông, không có khuấy động các loài thủy tộc như cá trạnh, ngoan đà (6), mà các biển lớn kia cũng vẫn y nguyên. Các loài rồng, quỉ thần, A Tu La v.v... đều không hay không biết ḿnh đi vào đấy, và các loài ấy cũng không có loạn động. Lại nữa, Ngài Xá Lợi Phất! Bồ Tát ở nơi pháp bất khả tư nghị giải thoát, rút lấy cơi tam thiên đại thiên thế giới nhanh như bàn tṛn của thợ gốm, rồi để trong bàn tay hữu quăng ra ngoài khỏi  những thế giới như số cát sông Hằng, mà chúng sanh trong đó không hay không biết ḿnh có đi đâu, lại đem trở về chỗ cũ, mà người không biết có qua có lại, và thế giới ấy cũng vẫn y nguyên.

Lại nữa, Ngài Xá Lợi Phất! Hoặc có chúng sanh nào ưa ở lâu trong đời mà có thể độ được. Bồ Tát liền kéo dài bảy ngày ra làm một kiếp (7) để cho chúng sanh kia gọi là một kiếp; hoặc có chúng sanh nào không ưa ở lâu trong đời mà có thể độ được, Bồ Tát liền thâu ngắn một kiếp lại làm bảy ngày, để cho chúng sanh kia gọi là bảy ngày.

Lại nữa, Ngài Xá Lợi Phất! Bồ Tát trụ nơi pháp bất khả tư nghị giải thoát, đem những việc tốt đẹp của tất cả cơi Phật gom về một nước chỉ bày cho chúng sanh. Lại nữa, Bồ Tát đem tất cả chúng sanh ở tất cả cơi Phật để trên bàn tay hữu của ḿnh rồi bay đến mười phương bày ra cho ai cũng thấy tất cả mà bản xứ không lay động. - Lại nữa, Ngài Xá Lợi Phất! Những đồ cúng dường chư Phật của chúng sanh trong mười phương, Bồ Tát làm cho tất cả đều thấy nơi một lỗ chơn lông. Lại nữa, bao nhiêu nhựt nguyệt, tinh tú trong các cơi nước ở mười phương, Bồ Tát đều làm cho mọi người thấy rơ nơi một lỗ chưn lông.

Lại nữa, Ngài Xá Lợi Phất! Bao nhiêu thứ gió ở các cơi nước trong mười phương, Bồ Tát có thể hút vào trong miệng mà thân không hề tổn hại, những cây cối ở bên ngoài cũng không xiêu, ngă, trốc, gảy. Lại khi kiếp lửa cháy tan cơi nước ở mười phương, Bồ Tát đem tất cả lửa để vào trong bụng, lửa cũng vẫn y nguyên mà không chút ǵ làm hại. Lại quá số cát sông Hằng thế giới Phật về phương dưới, lấy một cơi Phật đem để cách khỏi số cát sông Hằng thế giới ở phương trên như cầm mũi kim nhọn ghim lấy một lá táo mà không có tổn hại. Lại nữa, Ngài Xá Lợi Phất! Bồ Tát trụ cảnh "bất khả tư nghị giải thoát" hay dùng thần thông hiện làm thân Phật hoặc hiện thân Bích Chi Phật, thân Thanh Văn, thân Đế Thích, thân Phạm Vương, thân Thế chúa (8), hoặc thân Chuyển luân thánh vương. Các thứ tiếng to, tiếng vừa, tiếng nhỏ ở các cơi nước mười phương đều biến thành tiếng Phật diễn nói pháp vô thường, khổ, không, vô ngă và những pháp của chư Phật ở mười phương nói ra làm cho khắp tất cả đều được nghe.

Ngài Xá Lợi Phất! Nay tôi chỉ nói qua thần lực giải thoát bất khả tư nghị của Bồ Tát như thế, nếu nói cho đủ đến cùng kiếp cũng không hết được.

Khi đó Ngài Đại Ca Diếp nghe nói pháp môn "Bất khả tư nghị giải thoát" của Bồ Tát, ngợi khen chưa từng có, mới bảo Ngài Xá Lợi Phất rằng: "Ví như có người ở trước người mù phô bày các thứ h́nh sắc, người mù kia đâu thể thấy được. Nay tất cả hàng Thanh Văn nghe pháp môn "bất khả tư nghị giải thoát" này cũng đâu thể hiểu được. Người trí nghe pháp môn này ai mà chẳng phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Tại sao chúng ta mất hẳn giống ấy, đối với pháp Đại thừa này đă như hột giống thúi? Tất cả hàng Thanh Văn nghe pháp môn "bất khả tư nghị giải thoát" này đều phải than khóc tiếng vang động cơi Tam thiên đại thiên thế giới, c̣n tất cả Bồ Tát nên hết sức vui mừng mà vưng lănh pháp ấy. Nếu có Bồ Tát nào tin hiểu pháp môn "bất khả tư nghị giải thoát" này thời tất cả chúng ma không thể làm ǵ được.

Khi Ngài Đại Ca Diếp nói như thế rồi có ba vạn hai ngh́n vị thiên tử đều phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Bấy giờ ông Duy Ma Cật nói với Ngài Đại Ca Diếp rằng:

- Ngài Đại Ca Diếp! Các vị làm ma vương trong vô lượng vô số cơi nước ở mười phương phần nhiều là bực Bồ Tát trụ nơi pháp bất khả tư nghị giải thoát, v́ dùng sức phương tiện giáo hóa chúng sanh nên thị hiện làm ma vương.

Lại nữa, Ngài Ca Diếp! Vô lượng Bồ Tát ở mười phương, hoặc có người đến xin tay, chân, tai, mũi, đầu, mắt, tủy năo, huyết, thịt, da xương, xóm làng, thành ấp, vợ con, tôi tớ, voi ngựa, xe cộ, vàng bạc, lưu ly, xa cừ, mă năo, san hô, hổ phách, trân châu, đồi mồi, y phục và các món ăn uống, mà người xin đó phần nhiều là bực Bồ Tát trụ pháp bất khả tư nghị giải thoát dùng sức phương tiện đến thử thách để làm cho các Bồ Tát kia thêm kiên cố. V́ sao? Bồ Tát trụ pháp Bất khả tư nghị giải thoát có thần lực oai đức nên mới dám làm việc bức ngặt để chỉ bày cho chúng sanh những việc khó làm như thế. C̣n kẻ phàm phu hạ liệt không có thế lực, không thể làm bức ngặt được Bồ Tát, ví như con long tượng dày đạp, không phải sức lừa kham chịu nổi. Đó là môn trí tuệ phương tiện của Bồ Tát ở nơi pháp "bất khả tư nghị giải thoát" vậy.

 

1.-  Bất tư nghị: Coi theo nghĩa số 3 ở phẩm 1.

2.-  Hư luận: Những lời biện luận vô nghĩa, không đúng lư như thật. Trong Trung Luận nói: "Hư luận có 2 cách: 1)Ái luận, nghĩa là: Đối với tất cả pháp có tâm chấp đắm. 2)Kiến luận, là đối với tất cả pháp, khởi ra tri kiến cho là quyết định đúng lư. Do ái kiến như thế làm mê mờ tâm tánh, mà sanh ra các thứ ngôn luận bất chánh gọi là hư luận.

3.- A tăng kỳ: (Asamkhya) Tàu dịch là vô số, nghĩa là một số rất nhiều không tính đếm đặng. A tăng kỳ là số đứng đầu trong 10 số lớn: 1) A tăng kỳ, 2) Vô lượng, 3) Vô biên, 4) Vô đẳng, 5) Bất khả sổ, 6) Bất khả xưng, 7) Bất khả tư, 8) Bất khả lượng, 9) Bất khả thuyết, 10) Bất khả thuyết, Bất khả thuyết.

4.- Hằng hà sa: Cát sông Hằng, dụ cho số rất nhiều không thể lường tính đặng. Sông Hằng (Gange) là một con sông rất lớn ở nước Thiên Trúc, phát nguyên từ ao Vô nhiệt năo ở Hy mă lạp sơn bên Ấn độ, chảy ra Ấn Độ dương (Océan Indien). Ḷng sông và hai bên bờ có cát rất nhiều và mịn. Đương thời đức Phật nói pháp, gặp số ǵ quá nhiều đều mượn đó mà thí dụ.

5.-Do tuần: Có 3 hạng: 1) 40 dặm tàu, 2) 60 dặm, 3) 80 dặm.

6.- Ngoan Đà: Ngoan là con giải, Đà là một loại cá sấu dài hơn hai trượng, bốn chân, da nó dùng để bịt trống.

7.- Một kiếp: Nghĩa là một khoảng thời gian rất lâu dài. Một kiếp lớn có 4 kiếp trung, 1 kiếp trung có 20 kiếp nhỏ. Trong một kiếp nhỏ có 16.800.000 năm; một kiếp trung có 16.800.000x20: 336.000.000 năm. Một kiếp lớn có 336.000.000x4:1.344.000.000 năm.

8.- Thế chúa: Có chỗ chỉ Tứ Thiên Vương, hay là vị Phạm Thiên, hoặc là vị Đại Tự Tại Thiên, tức là vị làm chủ trong cơi thế gian.

 

 

VII. PHẨM QUÁN CHÚNG SANH  (1)

 

Lúc bấy giờ Ngài Văn Thù Sư Lợi hỏi ông Duy Ma Cật rằng:

- Bồ Tát quán sát chúng sanh phải thế nào?

Ông Duy Ma Cật đáp:

- Ví như nhà huyễn thuật thấy người huyễn của ḿnh hóa ra, Bồ Tát quán sát chúng sanh cũng như thế. Như người trí thấy trăng dưới nước, thấy mặt trong gương, như ánh nắng dợn, như vang của tiếng, như mây giữa hư không, như bọt nước, như bóng nổi, như cây chuối bền chắc, như chớp dừng lâu, như đại thứ năm (2) như ấm thứ sáu (3) như t́nh (căn) thứ bảy, (4) như nhập thứ mười ba (5), như giới thứ mười chín (6). Bồ Tát quán sát chúng sanh cũng như thế. Như sắc chất cơi vô sắc (7), như mộng lúa hư, như thân kiến của Tu đà hoàn (8), như sự nhập thai của A na hàm (9), như   tam độc của A la hán (10), như tham giận phá giới của Bồ Tát chứng vô sanh nhẫn, như tập khí phiền năo của Phật, như người mù thấy sắc tượng, như hơi thở ra vào của người nhập diệt tận định (11), như dấu chim giữa hư không, như con của đàn bà không sanh đẻ (Thạch nư>), (12) như phiền năo của người huyễn hóa, như cảnh chiêm bao khi đă thức, như người diệt độ thọ lấy thân, như lửa không khói. Bồ Tát quán sát chúng sanh cũng như thế đó.

Ngài Văn Thù Sư Lợi hỏi:

- Nếu Bồ Tát quán sát như thế phải thật hành ḷng từ thế nào?

Ông Duy Ma Cật đáp rằng:

- Bồ Tát quán sát như thế rồi phải tự nghĩ rằng: "Ta phải v́ chúng sanh nói pháp như trên, đó là ḷng từ chân thật. Thật hành ḷng từ tịch diệt, bởi v́ không sanh. Thật hành ḷng từ không nóng bức, bởi không có phiền năo. Thật hành ḷng từ b́nh đẳng, bởi ba đời như nhau. Thật hành ḷng từ không đua tranh, bởi không có khởi. Thật hành  ḷng từ không hai, bởi trong ngoài (căn trần) không hiệp. Thật hành ḷng từ không hoại, bởi hoàn toàn không c̣n. Thật hành ḷng từ kiên cố, bởi ḷng không hủy hoại. Thật hành ḷng từ thanh tịnh, bởi tánh các pháp trong sạch. Thật hành ḷng từ vô biên, v́ như hư không. Thật hành ḷng từ A la hán, v́ phá các giặc kiết sử (13) Thật hành ḷng từ Bồ Tát, v́ an vui chúng sanh. Thật hành ḷng từ Như Lai, v́ đặng tướng như như. Thật hành ḷng từ của Phật, v́ giác ngộ chúng sanh. Thật hành ḷng từ tự nhiên, v́ không nhơn đâu mà đặng. Thật hành ḷng từ Bồ Đề, chỉ có một vị. Thật hành ḷng từ vô đẳng (không chi sánh bằng), v́ đoạn các ái kiến. Thật hành ḷng từ đại bi, dẫn dạy cho pháp Đại thừa. Thật hành ḷng từ không nhàm mỏi, quán không, vô ngă. Thật hành  ḷng từ pháp thí, không có luyến tiếc. Thật hành ḷng từ tŕ giới, để hóa độ người phá giới. Thật hành ḷng từ nhẫn nhục, để ủng hộ người và ḿnh. Thật hành ḷng từ tinh tấn, để gánh vác chúng sanh. Thật hành ḷng từ thiền định không thọ mùi thiền. Thật hành ḷng từ trí tuệ, đều biết đúng nhịp. Thật hành ḷng từ phương tiện, thị hiện tất cả. Thật hành ḷng từ không ẩn dấu, ḷng ngay trong sạch. Thật hành ḷng từ thâm tâm, không có hạnh xen tạp. Thật hành ḷng từ không phỉnh dối, không có lừa gạt. Thật hành ḷng từ an vui, làm cho tất cả được sự an vui của Phật. Ḷng từ của Bồ Tát là như thế đó.

Ngài Văn Thù Sư Lợi hỏi: Sao gọi là ḷng bi?

- Bồ Tát làm công đức ǵ cốt để cho chúng sanh.

- Sao gọi là ḷng hỷ?

- Có lợi ích đều hoan hỷ, không hối hận.

- Sao gọi là ḷng xả?

- Những phước báu đă làm, không có ḷng hy vọng.

Ngài Văn Thù Sư Lợi lại hỏi:

- Sự sanh tử đáng sợ. Bồ Tát phải y nơi đâu?

Ông Duy Ma Cật đáp:

- Bồ Tát ở trong sanh tử đáng sợ đó, phải y nơi sức công đức của Như Lai.

Ngài Văn Thù Sư Lợi lại hỏi:

- Bồ Tát muốn y sức công đức của Như Lai, phải trụ nơi đâu?

- Bồ Tát muốn y sức công đức của Như Lai, phải trụ nơi chỗ độ thoát tất cả chúng sanh.

 Lại hỏi:

- Muốn độ chúng sanh phải trừ những ǵ?

- Muốn độ chúng sanh phải trừ phiền năo.

- Muốn trừ phiền năo phải thật hành những ǵ?

- Phải thật hành chánh niệm.

- Thế nào là thật hành chánh niệm?

- Phải thật hành pháp không sanh không diệt.

- Pháp ǵ không sanh, pháp ǵ không diệt?

- Pháp bất thiện không sanh, pháp thiện không diệt.

- Pháp thiện và pháp bất thiện lấy ǵ làm gốc?

- Thân là gốc.

- Thân lấy ǵ làm gốc?

- Tham dục là gốc.

- Tham dục lấy ǵ làm gốc?

- Hư vọng phân biệt là gốc.

- Hư vọng phân biệt lấy ǵ làm gốc?

- Tưởng điên đảo là gốc.

- Tưởng điên đảo lấy ǵ làm gốc?

- Không trụ (14) là gốc.

- Không trụ lấy ǵ làm gốc ?

-  Không trụ th́ không gốc.

Thưa Ngài Văn Thù Sư Lợi, ở nơi "gốc không trụ mà lập tất cả pháp".

Bấy giờ trong nhà ông Duy Ma Cật có một Thiên nữ thấy các vị trời, người đến nghe pháp, liền hiện thân ra tung rải hoa trời trên ḿnh các vị Bồ Tát và Đại đệ tử. Khi hoa đến ḿnh các vị Bồ Tát đều rơi hết, đến các vị Đại đệ tử đều mắc lại. Các vị Đại đệ tử dùng hết thần lực phủi hoa mà hoa cũng không rớt.

Lúc ấy, Thiên nữ hỏi Ngài Xá Lợi Phất:

- Tự sao mà phủi hoa?

Xá Lợi Phấtnói :

- Hoa này không như pháp nên phủi.

- Chớ bảo hoa này là không như pháp. V́ sao? Hoa này nó không có phân biệt, tự Nhân giả phân biệt đó thôi! Nếu người xuất gia ở trong Phật pháp có phân biệt là không như pháp, nếu không phân biệt là như pháp. Đấy, xem các vị Bồ Tát, hoa có dính đâu? V́ đă đoạn hết tưởng phân biệt. Ví như người lúc hồi hộp sợ, thời phi nhơn mới thừa cơ hại đặng. Như thế, các vị Đại đệ tử v́ sợ sanh tử nên sắc, thinh, hương, vị, xúc mới thừa cơ được, c̣n người đă ĺa được sự sợ sệt th́ tất cả năm món dục không làm chi đặng. Do tập khí kiết sử chưa dứt hết nên hoa mới mắc nơi thân thôi, c̣n người kiết tập (15) hết rồi, hoa không mắc được.

Ngài Xá Lợi Phất nói:

- Thiên nữ ở nhà này đă được bao lâu?

- Tôi ở nhà này như Ngài được giải thoát.

- Ở đây đă lâu ư?

- Ngài giải thoát cũng lâu như thế nào?

Ngài Xá Lợi Phất nín lặng không đáp.

Thiên nữ nói:

- Tại sao bực kỳ cựu (16) đại trí lại nín lặng?

- Giải thoát không có ngôn thuyết, nên ở nơi đó ta không biết nói làm sao!

Thiên nữ nói:

- Ngôn thuyết văn tự đều là tướng giải thoát. V́ sao? V́ giải thoát không ở trong, không ở ngoài, không ở hai bên, văn tự cũng không ở trong, không ở ngoài, không ở hai bên. Thế nên, Ngài Xá Lợi Phất, chớ rời văn tự mà nói giải thoát. V́ sao? V́ tất cả pháp là tướng giải thoát.

Ngài Xá Lợi Phất hỏi:

- Không cần ly dâm, nộ, si, được giải thoát ư?

Thiên nữ nói:

- Phật v́ kẻ tăng thượng mạn nói ly dâm, nộ, si là giải thoát thôi, nếu kẻ không tăng thượng mạn thời Phật nói tánh của dâm nộ, si là giải thoát.

Ngài Xá Lợi Phất nói:

- Hay thay, hay thay, Thiên nữ! Nàng được cái ǵ, chứng cái ǵ mà biện tài như thế?

Thiên nữ nói:

- "Tôi không được, không chứng, mới được biện tài như thế. V́ sao? - Nếu có được, có chứng thời ở trong Phật pháp là kẻ tăng tượng thượng mạn (17).

Ngài Xá Lợi Phất hỏi Thiên nữ:

- Ở trong ba thừa (18), ư nàng cầu thừa nào?

Thiên nữ nói:

- Cần pháp Thanh Văn để hóa độ chúng sanh, tôi làm Thanh Văn; cần pháp nhơn duyên để hóa độ chúng sanh, tôi làm Bích Chi Phật, cần pháp đại bi để hóa độ chúng sanh, tôi làm Đại thừa. Thưa Ngài Xá Lợi Phất! Như người vào rừng chiêm bặc (19), chỉ ngửi có mùi chiêm bặc, chứ không c̣n mùi hương nào khác. Cũng như người vào nhà này chỉ ngửi mùi hương công đức của Phật chớ không ưa ngửi mùi hương công đức của Thanh Văn và Bích Chi Phật.

Thưa Ngài Xá Lợi Phất! Có những vị Đế thích Phạm Vương, Tứ Thiên Vương và chư Thiên, long thần, quỉ cả thảy vào trong nhà này nghe Thượng nhân đây giảng nói chánh pháp, đều ưa mùi hương công đức của Phật phát tâm rồi ra.

Thưa Ngài Xá Lợi Phất, tôi ở nhà này đă mười hai năm chưa từng nghe nói pháp Thanh Văn, Bích Chi Phật, chỉ nghe đại từ đại bi của Bồ Tát và những pháp bất khả tư nghị của chư Phật. Thưa Ngài Xá Lợi Phất! Nhà này thường hiện ra tám pháp "chưa từng có, khó đặng". Tám pháp là ǵ?

Nhà này thường dùng ánh sáng sắc vàng soi chiếu ngày đêm không khác, chẳng cần ánh sáng của nhật nguyệt soi chiếu, đó là pháp "chưa từng có, khó đặng" thứ nhất - Nhà này hễ ai vào rồi không c̣n bị các thứ cấu nhiễm làm năo loạn, đó là pháp "chưa từng có, khó đặng" thứ hai - Nhà này thường có các vị Đế Thích, Phạm Thiên, Tứ Thiên Vương và các Bồ Tát ở phương khác nhóm họp không ngớt, đó là pháp "chưa từng có, khó đặng" thứ ba - Nhà này thường nói sáu pháp Ba la mật và pháp bất thối chuyển, đó là pháp "chưa từng có, khó đặng" thứ tư. Nhà này thường trổi âm nhạc bực nhứt của trời, người, vang ra vô lượng tiếng pháp, đó là pháp "chưa từng có, khó đặng" thứ năm - Nhà này có bốn kho tàng lớn chứa đầy các món báu, giúp khắp cho kẻ nghèo thiếu, hễ cầu liền được không bao giờ hết, đó là pháp "chưa từng có, khó đặng" thứ sáu - Nhà này Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật A Di Đà, Phật A Súc, Phật Bửu Đức, Phật Bửu Diệm, Phật Bửu Nguyệt, Phật Bửu Nghiêm, Phật Nan Thắng, Phật Sư Tử Hướng, Phật Nhứt Thiết Lợi Thành, vô lượng chư Phật trong 10 phương, khi Thượng Nhân đây niệm đến, liền hiện tới rộng nói tạng pháp bí yếu của chư Phật, khi nói xong các Ngài đều trở về, đó là pháp " chưa từng có, khó đặng" thứ bảy- Nhà này tất cả cung điện tốt đẹp của chư Thiên và các cơi   Tịnh độ của chư Phật đều hiện ở trong đây, đó là pháp  "chưa từng có, khó đặng" thứ tám.

Thưa Ngài Xá Lợi Phất! Nhà này thường hiện ra 8 pháp  "chưa từng có, khó đặng" như thế, ai thấy được việc không thể nghĩ bàn đó mà lại c̣n ham ưa pháp Thanh Văn ư?

Ngài Xá Lợi Phất nói:

- V́ sao ngươi không chuyển thân nữ kia đi?

Thiên nữ nói:

- Mười hai năm nay t́m kiếm măi cái tướng nữ nhơn hẳn không thể đặng, phải chuyển đổi cái ǵ? Ví như nhà huyễn thuật hóa ra một người nữ huyễn, nếu có người hỏi rằng: Sao không chuyển thân nữ đó đi? Vậy người hỏi đó có đúng chăng?

Ngài Xá Lợi Phất nói:

- Không đúng. Huyễn hóa không có tướng nhứt định c̣n phải chuyển đổi ǵ nữa.

 Thiên nữ nói:

- Tất cả pháp cũng như thế, không có tướng nhứt định, tại sao lại hỏi không chuyển thân nữ?

Tức thời Thiên nữ dùng sức thần thông biến Ngài Xá Lợi Phất thành ra Thiên nữ, Thiên nữ lại tự hóa ḿnh giống như Ngài Xá Lợi Phất mà hỏi rằng:

- Tại sao Ngài không chuyển thân nữ đi?

Ngài Xá Lợi Phất mang lấy h́nh tướng thân nữ mà đáp rằng:

- Ta nay không biết tại sao lại biến thành thân đàn bà này?

Thiên nữ nói:

- Thưa Ngài Xá Lợi Phất! Nếu Ngài chuyển được thân đàn bà đó, thời tất cả người nữ cũng sẽ chuyển được. Như Ngài Xá Lợi Phất không phải người nữ mà hiện thân nữ, thời tất cả người nữ cũng lại như thế, tuy là hiện thân nữ mà không phải người nữ đâu. V́ thế, Phật nói: tất cả các pháp không phải đàn ông, không phải đàn bà.

Bấy giờ Thiên nữ thu nhiếp thần lực, thân Ngài Xá Lợi Phất trở lại như cũ. Thiên nữ hỏi Ngài Xá Lợi Phất:

- Tướng đàn bà bây giờ ở đâu?

Ngài Xá Lợi Phất đáp:

- Tướng đàn bà không ở đâu, mà ở tất cả.

Thiên nữ nói:

- Tất cả pháp lại cũng như thế, không ở đâu, mà ở tất cả. Vả lại không ở đâu mà ở tất cả là lời Phật nói.

Ngài Xá Lợi Phất hỏi Thiên nữ:

- Nàng ở nơi đây chết rồi sẽ sanh nơi đâu?

Thiên nữ đáp:

- Phật hóa sanh thế nào, tôi cũng hóa sanh thế ấy.

Ngài Xá Lợi Phất nói:

- Phật hóa sanh không phải chết rồi mới sanh.

 Thiên nữ nói:

- Chúng sanh cũng thế, không phải chết rồi mới sanh.

Ngài Xá Lợi Phất hỏi Thiên nữ:

- Ngươi bao lâu sẽ chứng được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác?

Thiên nữ đáp:

- Khi nào Ngài Xá Lợi Phất trở lại phàm phu, tôi sẽ được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Ngài Xá Lợi Phất nói:

- Có khi nào ta trở lại phàm phu.

Thiên nữ nói:

- Có khi nào tôi lại được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. V́ sao? - V́ Bồ Đề không xứ sở nên không có được.

Ngài Xá Lợi Phất nói:

- Hiện nay các Phật chứng Bồ Đề vô thượng (A nậu đa la tam miệu tam bồ đề), các Phật đă chứng, sẽ chứng nhiều như số cát sông Hằng thời gọi là ǵ?

Thiên nữ đáp:

- Đấy là theo số mục văn tự ở đời mà nói có 3 đời, chớ không phải nói Bồ Đề có quá khứ, vị lai và hiện đại.

- Thưa Ngài Xá Lợi Phất! Ngài đặng đạo A la hán ư?

Đáp: Không có đặng mà đặng.

Thiên nữ nói:

- Các Phật, Bồ Tát cũng như thế, không đặng mà đặng.

Bấy giờ ông Duy Ma Cật bảo ngài Xá Lợi Phất:

- Thiên nữ này đă từng cúng dường 92 ức đức Phật, đă được thần thông du hư của Bồ Tát, nguyện lực đầy đủ, chứng vô sanh nhẫn không có thối lui, v́ theo bổn nguyện nên tùy ư mà hiện ra để giáo hóa chúng sanh.

 

1.-  Chúng sanh: Có ba nghĩa: 1) Tất cả loài có sự sống đều gọi là chúng sanh, như các loài động vật và thực vật, hữu t́nh và vô t́nh.

2) Chúng có nghĩa là rất nhiều; Sanh nghĩa là sanh khởi; do năm ấm, các duyên ḥa hợp thành những vật có sự sống tương tục, gọi là chúng sanh.

3) Trải qua nhiều phen sống chết luân hồi trong cảnh giới các loài hữu t́nh.

2.-  Đại thứ năm: Là vật không có. Chỉ có 4 đại: Địa, Thủy, Hỏa, Phong.

3.-  Ấm thứ sáu: Là vật không có. Chỉ có 5 ấm: Sắc, thọ, tưởng, hành, thức.

4.-  T́nh thứ bảy:Là vật không có, chỉ có sáu căn t́nh thức cảm giác, là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư.

5.-  Nhập thứ 13: Là vật không có, chỉ có 12 nhập là 6 căn xung nhập 6 trần.

6.-  Giới thứ 19: Là vật không có. Chỉ có 18 giới là 6 căn Cội giới, 6 trần ngoại giới và 6 thức trung giới.

7.-  Sắc thân cơi Vô Sắc: Là vật không có, Cơi Vô Sắc chỉ có 4 ấm: Thọ, tưởng, hành, thức về tâm pháp hợp thành loài hữu t́nh nơi đó, không có h́nh chất như cơi Sắc giới và Dục giới.

8.-  Thân kiến của Tu đà hoàn: Là việc không có. Tu đà hoàn là quả thứ nhứt trong 4 quả Thánh của Thanh Văn Tiểu thừa; Tàu dịch là Dự lưu, nghĩa là dự vào gịng Thánh. Bực này đă phá được kiến hoặc (sự thấy biết mê lầm) ở trong 3 cơi, nên không c̣n quan niệm chấp thân là thật nữa.

9.-  Sự nhập thai của A na hàm: Là việc không có. A na hàm là quả thứ ba của Thanh Văn, Tàu dịch là Bất lai, nghĩa là bực này tu hành đă dứt hết chín phẩm tư hoặc (tư tưởng sai lầm) ở Dục giới, nên không c̣n thọ sanh trở lại cơi Dục nữa.

10.- Tam độc của A la hán: Là việc không có. A la hán là quả thứ tư trong 4 quả Thanh Văn, Tàu dịch là Vô sanh. Bực này đă dứt hết phiền năo mê lầm trong 3 cơi, nên không c̣n 3 thứ độc: Tham, Sân, Si nữa.

11.- Hơi thở ra vào của người nhập Diệt tận định: Là việc không có. V́ người nhập Diệt tận định đă dứt hết hiện hành của 6 thức trước, nên không c̣n thở nữa.

12.- Thạch nữ: Là người nữ không có sanh con. Nói con của Thạch nữ là thí dụ cho việc không có, cũng như nói lông rùa sừng thỏ.

13.- Kiết sử: Các thứ phiền năo ràng buộc thân tâm kết thành quả khổ gọi là kiết; đeo đuổi xui dục chúng sanh không ra khỏi sanh tử gọi là sử.

Kiết có 9 món: 1) Ái kiết: say đắm cảnh ngũ dục không rời, 2) Nhuế kiết; giận dữ bất b́nh đối với nghịch cảnh, 3) Mạn kiết: kiêu căng ngạo nghễ, 4) Vô minh kiết: ngu si mờ ám đối với lẽ chơn chánh, 5) Kiến kiết: tà kiến không tin nhơn quả. 6) Thủ kiết: vọng chấp sự hiểu biết không chơn chánh, và giới pháp sai lầm, làm lắm điều ác. 7) Nghi kiết: dụ dự không tin chơn lư, không tu hành theo hạnh chơn lư, làm nhiều điều không chơn chánh; 8) Tật kiết: ghen ghét những bậc hiền đức; 9) Xan kiết: keo sẻn không chịu bố thí, lại làm nhiều điều ác. Chín điều này ràng buộc chúng sanh trong đường sanh tử, v́ nó khiến chúng sanh gây nhiều tội lỗi.

Sử có 10 món, tức là 5 món Độn sử và 5 Lợi sử.

5 món Độn sử: 1) Tham dục sử, 2) Sân nhuế sử, 3) Vô minh sử, 4) Mạn sử, 5) Nghi sử,

5 món Lợi sử: 1) Thân kiến sử, 2) Biên kiến sử, 3) Tà kiến sử, 4) Kiến thủ sử, 5) Giới thủ sử, Độn sử, do sự chấp đắm mà có. Lợi sử do sự nhận thức sai lầm mà có. Cả hai đều gây nên phiền năo xúi dục chúng sanh tạo nghiệp không ra khỏi ba cơi sanh tử.

14.- Không trụ: Là dịch nghĩa của danh từ: "Vô trụ". Các pháp toàn không có tự tánh, nên không có chỗ trụ trước, chỉ tùy theo duyên mà sanh khởi, nên gọi là vô trụ. Do vô trụ không có chỗ trụ trước, nên chẳng phải có, chẳng phải không, v́ chẳng phải có, không, nên mới làm được cái gốc cho hiện tượng có, không của vạn hữu. Theo ư ngài Duệ Công th́ vô trụ tức là thật tướng, thật tướng tức là tánh không, chỉ là khác tên mà thôi.

15.- Kiết tập: Tập khí phiền năo kiết sử.

16.- Kỳ cựu: Bực tuổi tác lăo thành.

17.- Tăng thượng mạn: Tự ḿnh chứa đặng những pháp tăng thượng của bực thánh, chưa chứng quả thánh mà tự xưng là đă đặng chứng, khởi ḷng ngă mạn, nên gọi là tăng thượng mạn.

18.- Ba thừa: Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát.

19.- Chiêm bặc: Tàu dịch là Kim sắc hoa thọ, hay huỳnh hoa thọ: nghĩa là cây hoa sắc vàng, có mùi hương bay rất xa.

 

 

VIII. PHẨM PHẬT ĐẠO (1)

 

Bấy giờ Ngài Văn Thù Sư Lợi hỏi ông Duy Ma Cật rằng:

- Bồ Tát thế nào là thông đạt Phật đạo?

- Bồ Tát thật hành phi đạo (2) (trái đạo) là thông đạt Phật đạo.

- Lại hỏi: Thế nào là Bồ Tát thật hành Phi đạo?

Nếu Bồ Tát gây năm tội vô gián (3) mà không buồn giận, đến ở trong địa ngục mà không có tội cấu; đến trong loài súc sanh mà không có những lỗi vô minh kiêu mạn; đến trong ngạ quỉ mà vẫn đầy đủ công đức; đến cảnh Sắc và Vô Sắc giới mà không cho là thù thắng; hiện làm tham dục mà không nhiễm đắm; hiện làm giận dữ mà đối với chúng sanh không có ngại ǵ; hiện cách ngu si mà dùng trí tuệ điều phục tâm ḿnh; hiện làm hạnh tham lam bỏn sẻn mà bỏ tất cả của cải, không tiếc thân mạng; hiện phá giới cấm mà ở trong tịnh giới, đến như tội bé nhỏ cũng hết ḷng sợ sệt; hiện làm giận dũi mà thường từ bi, nhẫn nhục; hiện làm lười biếng mà siêng tu các công đức; hiện làm loạn ư mà thường niệm định; hiện làm ngu si mà thông đạt trí tuệ thế gian và xuất thế gian; hiện làm dua dối mà phương tiện thuận theo nghĩa các kinh; hiện làm kiêu mạn mà đối với chúng sanh ḿnh cũng như cầu, đ̣ (4); hiện làm tất cả phiền năo mà ḷng thường thanh tịnh; hiện vào trong chúng ma mà thuận theo trí tuệ của Phật, không theo đạo giáo khác; hiện làm hàng Thanh Văn mà nói các pháp chưa từng nghe cho chúng sanh; hiện vào hàng Bích Chi Phật mà thành tựu ḷng đại bi, giáo hóa chúng sanh; hiện vào hạng nghèo nàn mà có tay đầy đủ của công đức; hiện vào hạng tàn tật mà đủ tướng tốt để trang nghiêm thân ḿnh; hiện vào hạng hèn hạ mà sanh trong gịng giống Phật, đầy đủ các công đức; hiện vào hạng người ốm yếu xấu xa mà được thân Na la diên (kim cang), tất cả chúng sanh đều muốn xem; hiện vào hạng già bịnh mà đoạn hẳn gốc bịnh, không c̣n sợ chết; hiện làm hạng giàu có mà xem là vô thường, không có tham đắm; hiện có thê thiếp, thế nữ mà tránh xa bùn lầy ngũ dục; hiện nơi hạng đần độn mà thành tựu biện tài, vẫn giữ tổng tŕ; hiện vào tà tế (5) mà dùng chánh tế độ chúng sanh; hiện vào khắp các đạo, để đoạn dứt nhơn duyên; hiện vào Niết bàn mà không bỏ sanh tử. Thưa Ngài Văn Thù Sư Lợi! Nếu Bồ Tát làm được những việc trái đạo như thế, đấy là thông suốt Phật đạo.

Bấy giờ, ông Duy Ma Cật hỏi Ngài Văn Thù Sư Lợi rằng:

- Thế nào là hột giống Như Lai?

Ngài Văn Thù Sư Lợi nói:

- Có thân là hột giống; vô minh có ái là giống; tham, sân, si là giống; 4 món điên đảo (6) là giống; 5 món che ngăn là giống; 6 nhập là giống; 7 chỗ thức (7) là giống; 8 pháp tà (8) là giống; 9 món năo (9) là giống; 10 điều bất thiện là giống; nói tóm lại 62 món tà kiến và tất cả phiền năo đều là giống Phật cả.

Ông Duy Ma Cật hỏi:

- Tại sao thế?

- Nếu người thấy vô vi mà vào chánh vị (Niết bàn) thời không thể c̣n phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác nữa. Ví như chỗ g̣ cao không thể sinh hoa sen, mà nơi bùn lầy thấp ướt mới có hoa sen, Như thế, người thấy vô vi, vào chánh vị không c̣n sanh trong Phật pháp được, mà ở trong bùn lầy phiền năo mới có chúng sinh nghĩ đến Phật pháp mà thôi. Lại như gieo hột giống trên hư không th́ không sinh được, ở đất phân bùn mớt tốt tươi được. Như thế, người đă vào vô vi chánh vị không sanh được trong Phật pháp, kẻ khởi ngă kiến như núi Tu di c̣n có thể phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác mà sinh trong Phật pháp. Cho nên phải biết tất cả phiền năo là giống Như Lai. Ví như không xuống bể cả, không thể đặng bảo châu vô giá, cũng như không vào biển cả phiền năo thời làm sao mà có ngọc báu "nhứt thiết trí".

Lúc bấy giờ Ngài Đại Ca Diếp khen rằng:

- Hay thay! Hay thay! Ngài Văn Thù Sư Lợi, lời nói thích quá. Thật đúng như lời Ngài nói những bọn trần lao là giống Như Lai. Hôm nay, chúng tôi không c̣n kham phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng, Chánh Giác. Đến như người đủ 5 tội vô gián c̣n có thể phát ư mong sanh trong Phật pháp, mà nay chúng tôi hoàn toàn không phát được. Ví như những người 5 căn (10) đă hư, đối với 5 món dục lạc chẳng c̣n cảm xúc. Cũng như hàng Thanh Văn đă đoạn hết kiết sử, ở trong Phật pháp không c̣n có lợi ích ǵ mấy, bởi không c̣n có chí nguyện.

Thưa Ngài Văn Thù Sư Lợi! V́ thế nên phàm phu ở trong Phật pháp c̣n có ảnh hưởng, mà hàng Thanh Văn thời không. V́ sao? V́ phàm phu nghe Phật nói pháp khởi được đạo tâm vô thượng, chẳng đoạn Tam bảo, c̣n chính như Thanh Văn trọn đời nghe Phật pháp: 10 lực, 4 món vô úy v.v... mà hoàn toàn cũng không phát được đạo tâm vô thượng.

Trong chúng hội có Bồ Tát tên Phổ Hiện Sắc Thân hỏi ông Duy Ma Cật rằng:

- Cư sĩ! Cha mẹ, vợ con, thân bằng quyến thuộc, những người tri thức là ai? Tôi tớ, trai bạn, voi ngựa, xe cộ ở đâu?

Ông Duy Ma Cật dùng bài kệ đáp rằng:

Trí độ (11) mẹ Bồ Tát,

Phương tiện ấy là cha

Đạo sư tất cả chúng,

Đều do đấy sanh ra.

Pháp hỷ (12) chính là vợ,

Tâm từ bi là gái,

Tâm thành thực là trai,

Rốt ráo vắng lặng: nhà.

Trần lao (13) là đệ tử,

Tùy ư mà sai sử,

Đạo phẩm (14) vốn bạn lành

Do đấy thành chánh giác.

Các độ (15) là pháp lữ,

Tứ nhiếp là kỹ nữ.

Ca ngâm tụng lời pháp,

Lấy đó làm âm nhạc,

Vườn tược ấy tổng tŕ (16),

Cây rừng, pháp vô lậu,

Hoa, giác ư (17) sạch mầu,

Trái, giải thoát trí tuệ.

Bát giải (thoát) (18) là ao tắm,

Nước định lặng trong đầy,

Rải bảy thứ tịnh hoa (19),

Để tắm người không nhơ.

Ngũ thông (20), voi, ngựa chạy,

Đại thừa là xe cộ,

Cầm cương là nhất tâm,

Dạo chơi đường bát chánh (21).

Tướng đủ nghiêm mặt mày,

Các tốt trau h́nh dáng,

Hổ thẹn làm thượng phục (22),

Thâm tâm làm tràng hoa.

Giàu có bảy của báu (23)

Dạy bảo để thêm lợi,

Như lời nói tu hành,

Hồi hướng làm lợi lớn.

Tứ thiền làm giường ghế,

Từ tịnh mạng sanh ra,

Học rộng thêm trí tuệ,

Đó là tiếng tự giác.

Món ăn: pháp cam lồ,

Nước uống: vị giải thoát,

Tắm rửa sạch tịnh tâm,

Hương thoa là giới phẩm.

Trừ dẹp giặc phiền năo,

Mạnh mẽ không ai hơn,

Hàng phục bốn thứ ma (24),

Phướng tốt dựng đạo tràng.

Tuy biết không sanh diệt,

V́ dạy chúng, có sanh,

Khắp hiện vào các cơi,

Như mặt nhựt, đều thấy.

Cúng dường khắp mười phương,

Không lường ức Như Lai,

Chư Phật và thân ḿnh,

Không có tưởng phân biệt.

Dầu biết các cơi Phật,

Với chúng sanh đều không,

Mà thường tu Tịnh độ,

Dạy dỗ cho quần sanh.

Bao nhiêu loài hữu t́nh,

Oai nghi cùng h́nh, tiếng,

Bồ Tát lực, vô úy,

Đồng thời đều khắp hiện.

Rơ biết các việc ma,

Mà hiện theo hạnh nó.

Dùng trí phương tiện khéo,

Tùy ư đều hay hiện,

Hoặc hiện già, bịnh, chết,

Thành tựu cho chúng sanh.

Rơ biết như huyễn hóa,

Thông suốt không ngăn ngại.

Hoặc hiện kiếp cháy tan,

Đại địa đều trống rỗng,

Những người có tưởng "thường",

Soi thấy rơ vô thường.

Vô số ức chúng sanh,

Đều đến thỉnh Bồ Tát,

Đồng thời đến nhà kia,

Dạy cho về Phật đạo.

Kinh sách, cấm, chú thuật.

Các nghề nghiệp khéo léo,

Đều hiện làm việc ấy,

Lợi ích cho quần sanh.

Các đạo pháp thế gian,

Nương đấy mà xuất gia,

Để giải mê cho người,

Mà chẳng đọa tà kiến

Làm Nhựt, Nguyệt thiên tử,

Làm Phạm Vương, chủ, chúa,

Hoặc khi làm đất nước,

Hoặc lại làm gió lửa.

Vào kiếp có tật dịch,

Hiện làm các cây thuốc,

Nếu người nào uống đến,

Các bịnh ác tiêu trừ.

Vào kiếp có đói khát,

Hiện làm đồ uống ăn,

Trước là cứu đói khát,

Sau giảng dạy chính pháp.

Vào kiếp có đao binh,

Duyên khởi ḷng từ bi,

Giáo hóa cho chúng sanh,

Tâm đừng c̣n tranh đấu.

Nếu có chiến trận lớn,

Làm cho sức ngang nhau,

Bồ Tát hiện oai thế,

Hàng phục để yên ḥa.

Trong tất cả cơi nước,

Chỗ nào có địa ngục,

Đi ngay đến nơi đấy,

Cứu vớt người khổ năo.

Trong tất cả cơi nước,

Súc sanh ăn lẫn nhau,

Đều hiện sanh ra nó,

Làm cho được lợi ích.

Thị hiện trong ngũ dục,

Lại cũng hiện tu thiền,

Để tâm ma rối loạn,

Không thừa dịp hại đặng.

Hoa sen sanh trong lửa,

Thật đáng gọi ít có,

Cơi Dục mà tu thiền,

Ít có cũng như thế.

Hoặc hiện làm dâm nữ,

Dắt dẫn kẻ háo sắc,

Trước lấy dục dụ người,

Sau khiến vào trí Phật.

Hoặc làm chủ trong ấp,

Hoặc làm thầy khách buôn,

Quốc sư và Đại thần,

Để lợi ích chúng sanh.

Các chỗ có kẻ nghèo,

Hiện làm kho vô tận,

Nhân đó khuyến dạy người,

Cho phát tâm vô thượng.

Kẻ kiêu căng ngă mạn,

Hiện làm những lực sĩ,

Tiêu phục ḷng cống cao,

Quay về đạo Vô thượng.

Những người hay sợ sệt,

Đến nơi để an ủi,

Trước khí pháp "không sợ",

Sau dạy phát đạo tâm.

Hoặc hiện ĺa dâm dục,

Làm vị tiên ngũ thông,

Chỉ dạy cho chúng sanh,

Để được giới, nhẫn, từ.

Thấy người cần hầu hạ,

Hiện làm kẻ tôi tớ,

Vừa đẹp ư người kia,

Vừa phát được đạo tâm.

Tùy theo việc cần dùng,

Mà vào trong Phật đạo,

Dùng sức phương tiện khéo,

Đều giúp cho đầy đủ.

Đạo pháp nhiều không lường,

Việc làm không bờ mé,

Trí tuệ không hạng lượng,

Độ thoát vô số chúng.

Dầu cho tất cả Phật,

Trong vô số ức kiếp,

Khen ngợi công đức kia,

Cũng không thể hết được.

Ai nghe pháp như thế,

Chẳng phát tâm Bồ Đề,

Trừ những người bất tiếu

Ngu si không trí tuệ.

 

1.- Phật đạo: Tiếng Phạn là Phật đà Bồ đề, nghĩa là đạo giác ngộ như thật. Lại chỉ tất cả các điều phước huệ thanh tịnh thuần thiện của Phật đă thành tựu viên măn, đều gọi là Phật đạo.

 2.- Phi đạo: Chẳng phải Phật đạo, nghĩa là những phiền năo tạp nhiễm, tập nghiệp của tất cả chúng sanh trong ba cơi, ba đời và đạo pháp của Nhị thừa đều chẳng phải Phật đạo. Nhưng nếu thông đạt Phật đạo th́ phi đạo toàn là Phật đạo. Tỷ như thật hành các việc trong đời, mà không sa mắc vào đời, cho đến thật hành hiện nhập Niết Bàn của Nhị thừa, mà chẳng dứt sự sanh tử, độ sanh. Đó là ở nơi phi đạo mà tự tại siêu xuất phi đạo, nên tức nơi phi đạo mà thông đạt Phật đạo.

 3.- Năm tội vô gián: 1) Giết cha, 2) Giết mẹ, 3) Giết A La Hán, 4) Phá ḥa hiệp của chúng Tăng, 5) Làm cho thân Phật ra máu. Người tạo ra năm tội này, phải đọa vào địa ngục Vô gián (A tỳ), chịu các sự khổ bức, không khi nào hở dứt, nên gọi là Vô gián.

 4.- Như cầu đ̣: Ư nói rất khiêm nhượng hạ ḿnh, nghĩa là dù bị người đời lấn lướt khinh khi, nhưng vẫn nhẫn chịu không khinh mạn lại, cũng như cầu đ̣ cứ chịu họ dày đạp qua lại.

 5.- Tà tế, chánh tế: Ngoại đạo gọi là tà tế, ví như chỗ hiểm nạn dối gạt người. Phật đạo gọi là chánh tế, ví như chỗ bến đ̣ có thể đưa người qua được.

 6.- Bốn món điên đảo: 1) Sự vật trong thế gian là vô thường mà chấp là thường, 2) Ngũ dục lạc, không phải vui mà chấp là vui, 3) Thân này không phải ta mà chấp là ta, 4) Thân này nhơ nhớp mà chấp là sạch. Đây là 4 món chấp của phàm phu.

 7.- Bảy chỗ thức: 1) Sơ thiền, 2) Nhị thiền, 3) Tam thiền, 4) Tứ thiền, 5) Vô biên xứ thiền, 6) Thức biên xứ thiền, 7) Vô sở hữu xứ thiền, là bảy cảnh giới không có thống khổ bức năo, thần thức được an trú. Trừ cơi Vô tưởng và cơi Phi phi tưởng không kể, là v́ cơi này tâm tưởng quá vi tế, muội lược, tư niệm không rơ ràng.

 8.- Tám pháp tà: Đă giải ở phẩm III số 14.

 9.- Chín món năo: Về quá khứ ai quấy nhiễu ḿnh, quấy nhiễu thân thích ḿnh, th́ sanh năo, ai khen ngợi kẻ oán của ḿnh, ḿnh cũng sanh năo. Quá khứ như thế th́ hiện tại và vị lai cũng thế, nên gọi là chín chỗ năo.

10.- Năm căn: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân.

11.- Trí độ: Một độ trong 6 độ, nghĩa là trí tuệ viên măn hay vượt qua biển sanh tử đến bờ Niết bàn rốt ráo.

12.- Pháp hỷ: Nghe pháp lănh hội được, sanh ḷng vui mừng gọi là pháp hỷ.

 13.- Trần lao: Trần là nhiễm ô, nghĩa là các thứ tà kiến phiền năo hay làm nhiễm ô chơn tánh. Lao là nhọc nhằn, nghĩa là các tà kiến phiền năo làm cho chúng sanh trôi lăn mệt nhọc trong đường sanh tử.

 14.- Đạo phẩm: Tức phương pháp giúp người tu hành, thành tựu đạo quả Bồ đề, như 37 phẩm trợ đạo v.v...

 15.- Các độ: 6 độ, 10 độ.

 16.- Tổng tŕ: Gồm nhiếp các pháp.

 17.- Giác ư: Ư niệm giác sát cho tâm điều ḥa thích trung, không cao không thấ