Chùa Hải-Đức in Jacksonville
|
Kinh Duy-ma-cật Sở Thuyết Cưu-Ma-La-Thập dịch Hán HT. Thích Huệ Hưng dịch Việt
Từ xưa chư Phật, Bồ Tát ra đời giáo hóa chúng sanh, với ḷng bi nguyện thâm thiết đều muốn cho tất cả thoát ly cảnh giới triền phược khổ năo, đồng hưởng cảnh thanh tịnh an vui giải thoát. Nhưng muốn thực hiện cảnh giới thanh tịnh an vui giải thoát, cốt yếu là ḿnh phải được thanh tịnh như trong kinh nói "TÙY KỲ TÂM TỊNH, TẮC PHẬT ĐỘ TỊNH". Sở dĩ thân Phật rực rỡ, cảnh Phật trang nghiêm cũng đều do công đức diệu dụng của bản tâm thanh tịnh lưu xuất. Bản tâm ấy, chúng sanh sẳn có, cũng như chư Phật, không hai không khác, nhưng v́ từ lâu cứ mê chấp, đắm nhiễm theo trần duyên mà không hiển bày được đó thôi. Bộ Kinh "DUY - MA - CẬT" này, tôn yếu hiển bày pháp môn Bất Nhị. Chính đó là phương tiện của Chư Phật, Bồ Tát thị hiện chỉ rơ chỗ diệu dụng của bản tâm thanh tịnh, là PHÁP MÔN GIẢI THOÁT BẤT KHẢ TƯ NGHỊ mà Ngài DUY MA CẬT lặng thinh, đức Văn Thù tán thán, hàng Nhị thừa sửng sốt, không thể lấy trí suy nghĩ phân biệt biết nổi, không thể dùng lời nói luận bàn đến được. Giáo lư Tối Thượng Thừa này thật siêu thắng, trong đời ít có, khó gặp. Nay thầy Thích Huệ Hưng gia tâm phiên dịch ra quốc văn, v́ thời cơ xứng hiệp, nên được nhân duyên xuất bản. Nhận thấy pháp Tối Thượng Thừa này rất lợi ích, nên tôi nhứt tâm tùy hỉ giới thiệu cùng các bạn tu hành nào muốn t́m phương GIẢI THOÁT, muốn thực hiện cảnh giới an vui BẤT KHẢ TƯ NGHỊ. Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
GIÁC NGUYÊN PHẬT HỌC ĐƯỜNG
Kinh "DUY MA CẬT" cũng có tên gọi: Kinh "BẤT KHẢ TƯ NGHỊ GIẢI THOÁT". Kinh này nói rơ cảnh giới của Đại Bồ Tát chứng nhập. Bồ Tát thường chẳng những thị hiện thuận hành mà cũng lắm khi thị hiện nghịch hành để hóa độ chúng sinh. Ngài DUY MA CẬT chính là vị Đại Bồ Tát ở cơi Bất Động, v́ trợ duyên đức Thích Ca mà hiện thân cư sĩ đến cơi Ta bà này. Muốn hiển bản tánh "B́nh Đẳng Chơn Thật Không Hai" của chúng sinh sẵn có, Ngài hiện thân có bịnh để chỉ bày các phương pháp phá chấp: có, không, thường, đoạn của Tiểu Thừa và phàm phu ngoại đạo. Đọc vào kinh ta nhận thấy chẳng những hàng xuất gia mới thật hành được Phật đạo, mà Cư sĩ, Bà la môn cho đến mọi tầng lớp dân chúng cũng đều thật hành được Phật đạo. Có thật hành Phật đạo mới trở về bản tánh "b́nh đẳng không hai" và đầy đủ diệu dụng giải thoát. Đạo Phật là đạo chú trọng thật hành, không phải lư thuyết suông. Bộ Kinh DUY MA CẬT đây hiển rơ rành mạch cả lư thuyết và chỗ thật hành cho đến thế nào là thân chứng. Càng đọc, càng gẫm, càng thật hành, ta sẽ thấy đầy tánh cách từ bi vô ngại rộng lớn bao la của tâm hồn lợi tha triệt để. Đời đang đắm ch́m trong biển khổ mênh mang, người muốn cứu đời chân chính, cần phải có phương pháp chân chính cao siêu. Thấy sự lợi ích của kinh này hướng dẫn mọi người đi đến mục đích cao cả, thoát hẳn muôn sự mê lầm đen tối của tâm hồn chấp trước, ích kỷ, nhỏ hẹp và hành vi khổ lụy nhơn sinh, Dịch giả chẳng nệ ǵ chỗ hiểu chưa cùng tột và hạnh đức chưa thân chứng đến cảnh giới "bất tư nghị" mà vội cống hiến cho bạn đọc một pho sách chưa từng có. Vậy có chỗ nào sơ sót mong các bực cao minh phủ chính cho. Rất thâm tạ! Dịch giả cẩn chí.
I. Kinh này có phân ra thượng, trung, hạ, 3 quyển, 14 phẩm. Nhưng tôi dịch đây chỉ để luôn một quyển và số mục của các phẩm. II. Về phẩm II và III, tôi có nêu tên các vị Thanh Văn, Bồ Tát trên mỗi đoạn cho dễ t́m khi quí vị muốn xem. III. Ở sau có phụ phần chú thích danh từ. Phàm danh từ nào ở trước có giải rồi sau không giải nữa. IV. Kinh này không phải là kinh khóa tụng hằng ngày, nhưng nếu quí vị nào phát tâm tŕ tụng cũng được nhiều lợi ích và công đức vô lượng, như trong phẩm "Thấy Phật A Súc", phẩm "Pháp cúng dường" và phẩm "Chúc lụy" có nói rơ. Khi tụng kinh này cũng phải y theo nghi thức tụng niệm thường lệ, trước khai kinh, sau hồi hướng như tụng các kinh khác vậy. Kính dâng Giác LinhBổn Sư Ḥa Thượng hiệu CHÁNH THÀNHCHÙA VẠN AN chứng giám Đệ tử: HUỆ HƯNG
I. PHẨM PHẬT QUỐC (4) Chính tôi được nghe, một thuở kia, đức Phật (Thích Ca) ở thành Tỳ Da Ly (5) nơi vườn cây Am La (6) cùng tám ngh́n chúng Đại Tỳ Kheo, ba vạn hai ngh́n Bồ Tát, là những vị có tiếng tăm, đều đă thành tựu trí hạnh đại thừa, do nhờ oai thần của chư Phật lập nên. Các Ngài làm bức thành hộ pháp, giữ ǵn chánh pháp, diễn nói pháp âm rất oai hùng, tự tại vô úy như sư tử rống (7) danh đồn xa khắp mười phương. Người đời không cầu thỉnh mà các Ngài sẵn sàng làm bạn giúp cho an vui. Các Ngài xương minh Tam bảo không để dứt mất, hàng phục tất cả ma oán, ngăn dẹp các ngoại đạo; sáu căn (8) ba nghiệp (9) đều đă thanh tịnh; trọn ĺa năm món che ngăn (10) và mười điều ràng buộc (11). Tâm thường an trụ nơi lư vô ngại giải thoát; niệm định tổng tŕ (12) b́nh đẳng, biện tài thông suốt như suối tuôn không dứt. Các hạnh bố thí, tŕ giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ và sức phương tiện lợi ḿnh lợi người thảy đều đầy đủ. Đă được đến bực vô sở đắc 13) mà không khởi pháp nhẫn (vô sinh pháp nhẫn) (14) hay tùy thuận diễn nói pháp luân bất thối (15), khéo hiểu rơ chân tướng các pháp, thấu biết căn cơ chúng sanh, oai đức bao trùm đại chúng (16), không c̣n sợ sệt chi cả. Các Ngài dùng công đức trí tuệ trau sửa ḷng ḿnh, lấy tướng tốt trang nghiêm thân h́nh, sắc tượng dung nhan bực nhứt, bỏ hẳn tất cả trang sức tốt đẹp trong đời, danh tiếng cao xa vượt hẳn núi Tu di (17), ḷng tin bền chắc như kim cương, đem Pháp bảo soi khắp, mưa nước cam lồ, phát ra tiếng tăm đều là vi diệu bực nhứt. Các Ngài đă thâm nhập lư duyên khởi (18), dứt hết các tập khí kiến chấp sai lầm bên có bên không, diễn nói các pháp không sợ sệt như sư tử rống, những lời giảng nói như sấm nổ, không có hạn lượng và đă quá hạng lượng. Các Ngài tự ḿnh nhóm góp rất nhiều Pháp bảo như Hải đạo sư (19), rơ nghĩa lư sâu mầu của các pháp, biết rành hiện trạng qua lại trong các cảnh thú và hành vi tốt xấu trong tâm niệm chúng sanh. Gần kề bực Phật tối tôn là đấng đầy đủ trí tuệ, tự tại, thập lực (20) vô úy (21) thập bát bất cộng (22). Ngăn đóng tất cả cửa nẻo ác thú, hiện thân trong năm đường (23) hóa độ chúng sanh. Làm vị Đại Y Vương (24) khéo trị lành các bịnh, đúng theo bịnh cho thuốc đều được công hiệu. Đă thành tựu vô lượng công đức, trang nghiêm thanh tịnh vô lượng cơi Phật. Người nào được nghe danh thấy h́nh đều được lợi ích. Những hành động của các Ngài đều không uổng phí, các công đức như thế, đă hoàn toàn viên măn. Danh hiệu các Ngài là: Đẳng Quán Bồ Tát, Bất Đẳng Quán Bồ Tát, Đẳng Bất Đẳng Quán Bồ Tát, Định Tự Tại Vương Bồ Tát, Pháp Tự Tại Vương Bồ Tát, Pháp Tướng Bồ Tát, Quang Tướng Bồ Tát, Quang Nghiêm Bồ Tát, Đại Nghiêm Bồ Tát, Bảo Tích Bồ Tát, Biện Tích Bồ Tát, Bảo Thủ Bồ Tát, Bảo Ấn Bồ Tát, Thường Cử Thủ Bồ Tát, Thường Hạ Thủ Bồ Tát, Thường Thảm Bồ Tát, Hỷ Căn Bồ Tát, Hỷ Vương Bồ Tát, Biện Âm Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Chấp Bảo Cự Bồ Tát, Bảo Dơng Bồ Tát, Bảo Kiến Bồ Tát, Đế Vơng Bồ Tát, Minh Vơng Bồ Tát, Vô Duyên Quán Bồ Tát, Huệ Tích Bồ Tát, Bảo Thắng Bồ Tát, Thiên Vương Bồ Tát, Hoại Ma Bồ Tát, Điễn Đức Bồ Tát, Tự Tại Vương Bồ Tát, Công Đức Tướng Nghiêm Bồ Tát, Sư Tử Hống Bồ Tát, Lôi Âm Bồ Tát, Sơn Tướng Kích Âm Bồ Tát, Hương Tượng Bồ Tát, Bạch Hương Tượng Bồ Tát, Thường Tinh Tấn Bồ Tát, Bất Hưu Tức Bồ Tát, Diệu Sanh Bồ Tát, Hoa Nghiêm Bồ Tát, Quan Thế Âm Bồ Tát, Đắc Đại Thế Bồ Tát, Phạm Vơng Bồ Tát, Bảo Trượng Bồ Tát, Vô Thắng Bồ Tát, Nghiêm Độ Bồ Tát, Kim Kế Bồ Tát, Châu Kế Bồ Tát, Di Lặc Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử Bồ Tát, cả thảy như thế ba vạn hai ngh́n Ngài. Lại có một vạn vị Thi Khí (25) Phạm Thiên Vương từ Tứ thiên hạ (26) khác đến chỗ Phật nghe Pháp. Lại có một vạn hai ngh́n vị Thiên đế cũng từ Tứ thiên hạ khác đến trong pháp hội. Các hàng chư Thiên có oai lực lớn, cùng Long thần, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Khẩn na la, Ma Hầu la dà (27) v.v... đều đến trong pháp hội. Lại có các vị Tỳ kheo (28) Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, (29) Ưu bà di (30) cũng đến trong Pháp hội. Bấy giờ đức Phật nói Pháp cho vô lượng trăm ngh́n đại chúng đông đảo cung kính vây quanh đấy, ví như núi chúa Tu di hiển bày nơi bể cả. Ngài ngồi yên trên ṭa Sư tử (31) trang nghiêm bằng các thứ báu, oai đức che trùm tất cả đại chúng. Khi ấy trong thành Tỳ Da Ly có Trưởng giả tử (32) tên là Bảo Tích với 500 vị Trưởng giả tử đồng cầm lộng bảy báu (33) đi đến chỗ Phật cung kính đảnh lễ đầu mặt tiếp chơn, rồi mỗi vị đều đem lọng báu của ḿnh hợp nhau cúng dường Phật. Do oai đức của Phật nên khiến các lọng báu ấy hiệp thành một cây trùm khắp cơi Tam thiên đại thiên thế thế giới (34) mà tướng rộng dài của thế giới đều hiện đủ trong đó. Lại nữa, các núi Tu di, Mục chơn lân đà, Đại mục chơn lân đà, Tuyết sơn, Hương sơn, Bảo sơn, Kim sơn, Hắc sơn, Thiết vi, Đại thiết vi, bể lớn, sông, rạch ḍng, ng̣i, nguồn suối, cùng với mặt trời, mặt trăng, các ngôi sao, thiên cung, long cung và cung các vị tôn thần, nơi cơi Tam thiên đại thiên thế giới này đều hiện trong lọng bảy báu, và chư Phật trong 10 phương, chư Phật đang nói pháp, cũng hiện trong lọng bảy báu ấy. Khi đó tất cả Đại chúng thấy thần lực của Phật đều khen ngợi chưa từng có, chấp tay làm lễ, ngắm nh́n dung nhan Phật mắt không hề nháy. Trưởng giả tử Bảo Tích liền ở trước Phật đọc bài kệ khen rằng: Mắt trong, dài rộng như sen xanh, Tâm sạch đă tột các thiền định, Lâu chứa tịnh nghiệp nói không cùng, Dùng tịch độ chúng (35) nên cúi lạy. Đă thấy Đại thánh dùng thần biến, Khắp hiện mười phương không lường cơi. Trong đấy các Phật diễn nói pháp, Nơi đây tất cả đều thấy nghe. Pháp lực của Phật vượt quần sanh Thường dùng Pháp tài thí tất cả, Hay khéo phân biệt các Pháp tướng, Đối đệ nhứt nghĩa (36) mà không động. Đă được tự tại cùng các Pháp Cho nên cúi đầu lễ Pháp vương. Nói Pháp chẳng có cũng chẳng không V́ do nhân duyên các Pháp sanh, Không ta, không tạo, không thọ giả, Những việc lành dữ cũng chẳng mất. Trước tiên hàng ma nơi Phật thọ (37) Đặng Cam lồ diệt (38) thành đạo giác, Đă không tâm ư, không thọ hành (39) Mà xô dẹp hết các ngoại đạo. Ba lần chuyển Pháp (40) cơi đại thiên, Pháp ấy lâu nay thường thanh tịnh, Trời người đắc đạo đó là chứng, Tam bảo v́ thế hiện trong đời. Dùng Pháp mầu này độ chúng sanh Thọ rồi không lui, thường vắng lặng, Khỏi già bịnh chết đấng Y Vương, Lạy ngôi Pháp hải (41) đức không lường. Khen chê chẳng động như Tu di Đồng bực thương xót kẻ lành dữ, Tâm hạnh b́nh đẳng như hư không, Nghe đấng Nhơn bảo (42) ai chẳng kính. Nay dâng Thế Tôn lọng mọn này Cơi Tam thiên tôi hiện trong đó, Thiên cung, Long thần kia nương ở, Càn thát cả thảy với Dạ xoa. Mọi vật trong đời đều thấy rơ, V́ thương Phật hiện tướng biến này, Thấy việc ít có chúng khen ngợi, Nay con lạy đấng Tam giới tôn (43) Đại thánh chỗ nương của mọi loài, Ḷng sạch trong đó thảy vui vẻ, Đều thấy Thế Tôn ở trước ḿnh, Đó là thần lực Pháp bất cộng. (44) Phật dùng một tiếng diễn nói Pháp, Chúng sanh tùy loại thảy đặng hiểu, Đều cho rằng Phật đồng tiếng ḿnh, Đó là thần lực Pháp bất cộng. Phật dùng một tiếng diễn nói Pháp, Chúng sanh chỗ hiểu tùy mỗi hạng, Khắp được thọ hành đều lợi ích, Đó là thần lực Pháp bất cộng. Phật dùng một tiếng diễn nói Pháp, Có người kinh sợ hoặc vui mừng, Có kẻ dứt nghi hoặc nhàm chán, Đó là thần lực Pháp bất cộng. Lạy đấng Thập lực đại tinh tấn, Lạy đấng đă đặng không chỗ sợ, Lạy đấng trụ nơi Pháp bất cộng, Lạy đấng Đạo sư (45) của muôn loài. Lạy đấng hay dứt mọi kiết phược, (46) Lạy đấng đă đến nơi bờ kia, Lạy đấng hay vượt các thế gian, Lạy đấng trọn ĺa đường sanh tử. Biết hết chúng sanh tướng đến lui Khéo nói các Pháp được giải thoát, Như hoa sen trong đời chẳng nhiễm, Thường khéo vào nơi hạnh không tịch. (47) Rơ các Pháp tướng (48) không ngăn ngại, Lạy đấng không nương tợ hư không. Lúc đó Trưởng giả tử Bảo Tích đọc bài kệ tán thán xong, bạch Phật rằng: "Bạch Thế Tôn! Năm trăm vị Trưởng giả tử nầy đều đă phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác nguyện nghe cơi Phật thanh tịnh, cúi mong Thế Tôn dạy cho những hạnh của Bồ Tát được Tịnh độ" (quốc độ thanh tịnh). Phật bảo: "Hay thay Bảo Tích! Ông lại v́ các vị Bồ Tát mà hỏi Như Lai những hạnh được Tịnh độ, vậy hăy lắng nghe chín chắn, suy nghĩ kỹ nhớ lấy, ta sẽ nói cho ông rơ". Lúc ấy Bảo Tích cùng 500 vị Trưởng giả tử vâng lời Phật dạy, cung kính lóng nghe. Phật dạy rằng: "Này Bảo Tích! Tất cả chúng sanh là cơi Phật của Bồ Tát. V́ sao? - Bồ Tát tùy chỗ giáo hóa chúng sanh mà lănh lấy cơi Phật (Tịnh độ); tùy chỗ điều phục chúng sanh mà lănh lấy cơi Phật; tùy chúng sanh ưng theo quốc độ nào vào trí tuệ của Phật mà lănh lấy cơi Phật; tùy chúng sanh ưng theo quốc độ nào phát khởi căn tánh Bồ Tát mà lănh lấy cơi Phật. V́ sao thế? - V́ Bồ Tát lănh lấy cơi Phật thanh tịnh đều v́ muốn lợi ích chúng sanh. Ví như: Có người muốn xây dựng cung nhà nơi khoảng đất trống, tùy ư được thành công, nếu xây dựng giữa hư không quyết không thành tựu được; Bồ Tát cũng thế, v́ thành tựu chúng sanh nên nguyện lănh lấy cơi Phật - Nguyện lănh lấy cơi Phật chẳng phải ở nơi rỗng không vậy. Bảo Tích, ông nên biết! - Trực tâm (49) là Tịnh độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh không a dua vạy, sanh sang nước đó. Thâm tâm (50) là Tịnh độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh đầy đủ công đức sanh sang nước đó. Bồ Đề tâm (51) là Tịnh độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh có tâm đại thừa sanh sang nước đó. Bố thí là Tịnh độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh hay thí xả tất cả mọi vật sanh sang nước đó. Tŕ giới là Tịnh độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh tu mười điều lành, (52) hạnh nguyện đầy đủ, sanh sang nước đó. Nhẫn nhục là Tịnh độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh đủ 32 tướng tốt (53) trang nghiêm sanh sang nước đó. Tinh tiến là Tịnh độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh siêng tu mọi công đức sanh sang nước đó. Thiền định là Tịnh độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh biết thu nhiếp tâm chẳng loạn sanh sang nước đó. Trí tuệ là Tịnh độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh được chánh định sanh sang nước đó. Tứ vô lượng tâm (54) là Tịnh độ của Bồ Tát; Khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh thành tựu từ, bi, hỷ, xả sanh sang nước đó. Tứ nhiếp Pháp (55) là Tịnh độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh được giải thoát sanh sang nước đó. Phương tiện là Tịnh độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh khéo dùng đặng phương tiện không bị ngăn ngại ở các pháp, sanh sang nước đó. Ba mươi bảy phẩm trợ đạo (56) là Tịnh độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật chúng sanh đầy đủ niệm xứ, chánh cần, thần túc, ngũ căn, ngũ lực, thất giác chi, bát chánh đạo, sanh sang nước đó. Hồi hướng tâm (57) là Tịnh độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật, được cơi nước đầy đủ tất cả công đức. Nói Pháp trừ tám nạn là Tịnh độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật, cơi nước không có ba đường ác (58) và 8 nạn (59) Tự ḿnh giữ giới hạnh không chê chỗ kém khuyết của người khác là Tịnh độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật, cơi nước không có tên phạm giới cấm. Mười điều lành là Tịnh độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh sống lâu, giàu to, phạm hạnh (60) lời nói chắc thật, thường dùng lời dịu dàng, quyến thuộc không chia rẽ, khéo giải ḥa việc đua tranh kiện cáo, lời nói có lợi ích, không ghét không giận, thấy biết chân chánh sanh sang nước đó. Như thế, Bảo Tích! Bồ Tát tùy chỗ trực tâm mà hay phát hạnh, tùy chỗ phát hạnh mà được thâm tâm, tùy chỗ thâm tâm mà ư được điều phục, tùy chỗ ư được điều phục mà làm được như lời nói, tùy chỗ làm được như lời nói mà hay hồi hướng, tùy chỗ hồi hướng mà có phương tiện, tùy chỗ có phương tiện mà thành tựu chúng sanh, tùy chỗ thành tựu chúng sanh mà cơi Phật được thanh tịnh, tùy chỗ cơi Phật thanh tịnh mà nói Pháp được thanh tịnh, tùy chỗ nói Pháp thanh tịnh mà trí tuệ được thanh tịnh, tùy chỗ trí tuệ thanh tịnh mà tâm thanh tịnh, tùy chỗ tâm thanh tịnh mà tất cả công đức đều thanh tịnh. Cho nên, Bảo Tích này! Bồ Tát nếu muốn được cơi Phật thanh tịnh, nên làm cho tâm thanh tịnh; tùy chỗ tâm thanh tịnh mà cơi Phật được thanh tịnh". Lúc ấy, ông Xá Lợi Phất nương oai thần của Phật mà nghĩ rằng: "Nếu tâm Bồ Tát thanh tịnh chắc cơi Phật phải được thanh tịnh, vậy Thế Tôn ta khi trước làm Bồ Tát, tâm ư lẽ nào không thanh tịnh, sao cơi Phật này không thanh tịnh như thế?". Phật biết ông suy nghĩ vậy liền bảo rằng: - Ư ông nghĩ sao? Mặt trời, mặt trăng há không thanh tịnh sáng suốt ư, sao người mù không thấy? - Bạch Thế Tôn! Chẳng phải thế. Đó là tại người mù, không phải lỗi ở mặt trời và mặt trăng. - Xá Lợi Phất! Cũng thế, bởi chúng sanh do tội chướng nên không thấy được cơi nước của Như Lai thanh tịnh trang nghiêm, chớ không phải lỗi ở Như Lai - Này Xá Lợi Phất! Cơi nước của ta đây vẫn thanh tịnh mà tại ông không thấy đó thôi. Bấy giờ ông Loa Kế Phạm Vương thưa với ông Xá Lợi Phất rằng: "Ngài chớ nghĩ như thế, mà cho cơi Phật đây là không thanh tịnh. V́ sao? - V́ tôi thấy cơi nước của Phật Thích Ca Mâu Ni thanh tịnh, ví như cung trời Tự Tại". (61) Ông Xá Lợi Phất nói: - Sao tôi thấy cơi này toàn g̣ nỗng, hầm hố, chông gai, sỏi sạn, đất đá, núi non, nhơ nhớp dẫy đầy như thế? Ông Loa Kế Phạm Vương thưa rằng: - Đấy là do tâm của Ngài có cao thấp không nương theo trí tuệ của Phật nên thấy cơi này không thanh tịnh đó thôi - Thưa Ngài Xá Lợi Phất! Bồ Tát đối với tất cả chúng sanh thảy đều b́nh đẳng, thâm tâm thanh tịnh y theo trí tuệ của Phật th́ mới thấy được cơi Phật này thanh tịnh. Khi ấy Phật lấy ngón chơn nhấn xuống đất, tức th́ cơi Tam thiên đại thiên thế giới liền hiện ra bao nhiêu trăm ngh́n thứ trân bảo trang nghiêm rực rỡ, như cơi Vô Lượng Công đức bảo trang nghiêm của Phật Bảo Trang Nghiêm. Tất cả Đại chúng ngợi khen chưa từng có và đều thấy ḿnh ngồi trên ṭa sen báu. Phật bảo Xá Lợi Phất: - Ông hăy xem cơi Phật đây trang nghiêm thanh tịnh. Ông Xá Lợi Phất thưa: - Dạ, bạch Thế Tôn! Từ trước đến giờ con chưa từng thấy chưa từng nghe. Nay cơi nước của Phật đều hiện rơ trang nghiêm thanh tịnh. Phật bảo: - Này Xá Lợi Phất! Cơi nước của ta thường thanh tịnh như thế! Nhưng v́ muốn độ những kẻ căn cơ hạ liệt nên thị hiện ra cơi đầy nhơ nhớp xấu xa bất tịnh đó thôi. Ví như Chư Thiên đồng dùng một thứ bát bằng ngọc báu để ăn, nhưng tùy phước đức của mỗi vị mà sắc cơm có khác. Như thế, Xá Lợi Phất! Nếu tâm người thanh tịnh, sẽ thấy cơi này công đức trang nghiêm. Trong khi Phật hiện ra cơi nước trang nghiêm thanh tịnh, 500 vị Trưởng giả tử do ông Bảo Tích dắt đến đều chứng được vô sanh Pháp nhẫn, tám vạn bốn ngh́n người phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Bấy giờ Phật thâu nhiếp thần túc (62) lại, cơi nước trở thành như xưa. Ba vạn hai ngh́n người và Trời cầu Thanh văn thừa đều nhận rơ các Pháp hữu vi (63) là vô thường, xa ĺa trần cấu (64) đặng pháp nhăn thanh tịnh (65) tám ngh́n vị Tỳ kheo không c̣n chấp thọ các pháp, kiết lậu (66) đă hết, tâm ư được giải thoát.
1.- Kinh: Nói đủ là "Khế kinh", nghĩa là "pháp thường" khế hiệp chơn lư cùng khế hiệp căn cơ chúng sanh. 2.- Duy Ma Cật: Tên một vị Trưởng giả ở thành Tỳ Da Ly, tàu dịch là "Tịnh Danh". 3.- Bất khả tư nghị giải thoát: Là pháp môn giải thoát tự tại vô ngại không thể nghĩ bàn. Hai chữ "Giải thoát" đây là xa ĺa tất cả phiền năo nghiệp chướng khổ lụy, cứu cánh viên măn tự tại vô ngại, không phải như hàng Nhị thừa giải thoát sanh tử mà c̣n chướng ngại với cảnh pháp... Xem phẩm Bất khả tư nghị sau thời rơ. 4.- Phật quốc: Cơi nước của Phật. Như Tây phương Tịnh độ là cơi nước của Phật A Di Đà, Ta bà là cơi nước của Phật Thích Ca. 5.- Tỳ Da Ly: Tàu dịch là Quảng Nghiêm, nghĩa là thành này châu vi rộng lớn rất trang nghiêm, tốt đẹp, ở về Trung Ấn Độ. 6.- Am La: Tàu dịch là "nan phân biệt", nghĩa là thứ trái cây này từ khi c̣n sống đến khi chín chỉ có một màu xanh nên khó phân biệt được trái nào sống trái nào chín. 7.- Sư tử rống: Dụ Phật, Bồ Tát thuyết pháp tự tại không sợ sệt, lại làm cho tất cả phiền năo mê lầm của chúng sanh đều tiêu trừ, ví như sư tử rống lên một tiếng th́ tất cả các thú đều khiếp sợ chạy trốn. 8.- Sáu căn: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư. 9.- Ba nghiệp: 1)Thân nghiệp, 2)Khẩu nghiệp, 3)Ư nghiệp. 10.- Năm món che ngăn: 1)Tham dục; 2)Sân nhuế; 3)Thùy miên: Tâm hôn trầm không làm chi được; 4)Trạo hối: Trong tâm có sự ăn năn xao động; 5)Nghi pháp: Đối việc ǵ cũng mờ ám dụ dự không quyết đoán. Năm món này hay che đậy chơn tánh và làm cho các pháp lành không phát khởi hiển lộ được. 11.- Mười điều ràng buộc: 1) Vô tàm: có tội lỗi mà không biết hổ; 2) Vô quư: có tội lỗi người khác biết được mà không thẹn; 3) Tật: thấy người hiền đức giàu sang sanh ḷng ghen ghét; 4) Xan: bỏn sẻn không bố thí; 5) Hối: ăn năn những tội lỗi đă làm; 6) Thùy miên: hôn mê không tỉnh sát được thân tâm; 7) Điệu cử: Tâm niệm xao động; 8)Hôn trầm: thần thức hôn mê không rơ biết chi cả; 9)Sân hận: đối trước nghịch cảnh sanh tâm giận dũi; 10) Phú: che giấu tội ác. 12.- Niệm định tổng tŕ: Niệm tức là Tuệ; Tổng Tŕ: gồm nhiếp tất cả các pháp. Trong định gồm có tuệ, trong tuệ gồm có định gọi là niệm định tổng tŕ. 13.- Vô sở đắc: Là đối với hữu sở đắc mà nói. Nghĩa là không c̣n trụ trước một pháp nào cả, dầu trí chứng và cảnh chứng cũng không thấy có. 14.- Vô sanh pháp nhẫn: Vô sanh tức là không sanh không diệt. Nhẫn có nghĩa là tin nhận giữ ǵn; là nói dùng trí vô lậu an trú trong thể chơn lư bất sanh bất diệt, tâm không lay động. Trong "Đại Trí Độ luận", quyển 50 nói: "Đối thật tướng vô sanh diệt của các pháp, tin nhận thông suốt, không ngăn ngại, không thối lui, gọi là Vô sanh nhẫn" 15.- Pháp luân bất thối: Phật Bồ Tát thuyết pháp gọi là chuyển pháp luân. Các bậc Bồ Tát nghe pháp Phật dạy, đạo niệm càng thêm tăng tấn gọi là bất thối (không lui). Lại các bậc Bồ Tát đă chứng được "bất thối" rồi, đem pháp ấy dạy cho chúng sanh để cho được bất thối, nên gọi là chuyển pháp luân bất thối. 16.- Đại chúng: Là một nhóm người đông. Trong những thời thuyết pháp của Phật, trừ Phật ra c̣n bao nhiêu bậc Hiền, Thánh đều gọi là đại chúng. Chúng Tăng theo Phật tu học cũng gọi là Đại chúng. 17.- Tu Di: Tàu dịch là Diệu Cao, núi này thuần bằng bốn chất báu vàng, bạc, lưu ly, pha lê rất xinh đẹp nên gọi là Diệu, Cao hơn tất cả núi khác nên gọi rằng Cao. 18.- Lư Duyên khỉ: Tất cả các pháp đều từ nơi các duyên nhóm họp mà sanh khỉ. V́ tỏ ngộ lư duyên khỉ, nhận rơ các pháp không thật có, như huyễn hóa nên chẳng chấp có, nhưng các pháp là do duyên sanh, không phải hẳn là không, nên chẳng chấp không. Có không đều ĺa, mới là thâm nhập lư duyên khỉ. 19.- Hải đạo sư: Là người rất rành giỏi đường biển, làm thầy hướng đạo dắt dẫn các kẻ thương nhân vào biển để t́m ngọc báu không sợ lạc đàng. Dụ cho Phật và Bồ Tát là bực dắt dẫn chúng sanh đi vào chánh đạo không sai lạc. 20.- Thập lực: Mười trí lực của Phật. 1) Trí lực của Phật biết rơ những điều hợp lư và trái lư. 2) Biết rơ nhơn quả nghiệp báo của chúng sanh trong ba đời. 3) Biết rơ các pháp thiền định giải thoát tam muội. 4) Biết rơ từng bực cao thấp các căn tánh của chúng sanh. 5) Biết rơ những ưa muốn sai khác của chúng sanh. 6) Biết rơ tất cả những cảnh giới sai khác của chúng sanh trong thế gian. 7) Biết rơ chỗ đi đến của tất cả phàm phu, Hiền Thánh, thế gian và xuất thế gian. 8) Biết rơ tánh danh khổ, vui, thọ, yễu của tất cả chúng sanh. 9) Biết rơ sự sống chết qua, các kiếp trước của tất cả chúng sanh, và vô lậu Niết bàn của các Hiền Thánh. 10) Tự biết ḿnh đă dứt hết nghiệp hoặc tập khí, không c̣n sanh tử triền phược nữa. 21.- Vô úy: Bốn món vô úy: 1) Nhứt thế trí: hiểu biết tất cả pháp thế gian và xuất thế gian; 2) Lậu tận: hoặc nghiệp sanh tử đều biết hết; 3) Thuyết chướng đạo: nói pháp ma ngoại là chướng thánh đạo; 4) Thuyết tận khổ đạo: nói những đạo pháp có thể diệt hết các khổ. Bốn điều này Phật đối giữa Đại chúng các hàng Thiên ma, Phạm thiên, Sa môn, Bà la môn, nói một cách tự tại không sợ ai, không ai nói được nên gọi là "Vô úy". 22.- Thập bát bất cọng: Mười tám (18) pháp bất cọng này chỉ có Phật chứng đặng mà chẳng chung đồng với hàng Nhị thừa và Bồ Tát. 1) Thân không lỗi. 2) Miệng không lỗi. 3) Niệm không lỗi. 4) Không có tâm tưởng khác. 5) Không có tâm bất định. 6) Không có tâm không biết. 7) Sự muốn không giảm. 8)Tinh tấn không giảm. 9) Niệm không giảm. 10) Huệ không giảm. 11) Giải thoát không giảm. 12) Giải thoát tri kiến không giảm. 13) Tất cả thân nghiệp theo trí tuệ mà hành động. 14) Tất cả khẩu nghiệp theo trí tuệ mà hành động. 15) Tất cả ư nghiệp theo trí tuệ mà hành động. 16) Trí tuệ biết đời vị lai không ngại, 17) Trí tuệ biết đời quá khứ không ngại. 18) Trí tuệ biết đời hiện tại không ngại. 23.- Năm đường: Trời, người, địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh. 24.- Đại y vương: Thầy thuốc trị bịnh giỏi hơn các Thầy thuốc khác. Đức Phật hay tùy thuận căn cơ chúng sanh, khéo hóa độ, khiến xa ĺa tất cả khổ năo, như ông Thầy thuốc hay khéo trị lành các bịnh nhơn nên gọi Phật là "Đại y vương". 25.- Thi khí: Tên vị vua cơi trời Đại Phạm Thiên, ở từng trời thứ ba cơi Sơ thiền của Sắc giới. 26.- Tứ thiên hạ: Bốn châu thiên hạ. 1) Đông thắng thần châu. 2) Nam thiệm bộ châu. 3) Tây ngưu hóa châu. 4) Bắc cu lô châu. 27.- Thiên, long thần v.v...: Tục gọi là Thiên, Long Bát bộ. 1) Thiên: chư Thiên; 2) Long: là rồng; 3) Dạ xoa: loài quỉ bay đi rất mau; 4) Càn thát bà: thần âm nhạc; 5) A tu la: thần chiến đấu, Tàu dịch là Phi thiên; có phước như Trời mà đức kém hơn Trời; 6) Ca lâu na: chim đại bàng; 7) Khẩn na la: thần pháp nhạc; 8) Ma hầu la dà: thần măng xà. 28.- Tỳ kheo: Tiếng Phạn "Bhiksu", các thầy xuất gia thọ giới cụ túc (thọ 250 giới của Phật). Đàn ông gọi là Tỳ kheo, c̣n đàn bà gọi là Tỳ kheo ni (Thọ 350 giới). 29.- Ưu bà tắc: Tàu dịch là cận sự nam. Cận sự: nghĩa là thường thân cận cúng dường ủng hộ các bực xuất gia tu hành, tức là chỉ những người tại gia cư sĩ bên nam giới. 30.- Ưu bà di: Tàu dịch là cận sự nữ tức là nữ cư sĩ 31.- Ṭa sư tử: Pháp ṭa của Phật; Phật ngồi chỗ nào thuyết pháp, thời chỗ ấy gọi là "ṭa sư tử"; v́ Phật tự tại vô úy hàng phục được tất cả các ngoại đạo nên lấy sư tử làm ví dụ. 32.- Trưởng giả tử: Con ông Trưởng giả. Trưởng giả là người vừa có của cải, vừa có đức hạnh đầy đủ. Kinh Pháp Hoa Huyền Tán quyển 10 nói: "Tâm tánh ngay thẳng, lời lẽ chơn thật, hành vi thuần cẩn, tuổi tác già cả, của cải giàu có gọi là Trưởng giả". 33.- Bảy báu: Vàng, Bạc, Lưu ly, Pha lê, Xa cừ, Xích châu, Mă năo. 34.-Tam thiên Đại thiên thế giới: Một thái dương hệ tương đương với một tiểu thế giới; một ngàn tiểu thế giới, là một tiểu thiên thế giới; một ngàn tiểu thiên thế giới, là một trung thiên thế giới; một ngàn trung thiên thế giới là một đại thiên thế giới. Vậy đại thiên thế giới là một thế giới trải qua ba lần nhơn cho số ngàn, nên gọi là "Tam thiên Đại thên thế giới". 35.- Dùng tịch độ chúng: Tức dùng đạo lư Niết bàn tịch diệt dứt trừ tất cả nghiệp chướng khổ lụy để độ chúng sanh. 36.- Đệ nhứt nghĩa: Tượng trưng chơn lư cứu cánh, thật tánh các pháp; trên hết tất cả là "đệ nhứt", có lư do như thật gọi là "nghĩa". Cảnh giới của bậc tự giác thánh trí chứng đặng. Chẳng phải hạng dùng ngôn thuyết vọng tưởng so lường biết được. Trong kinh Pháp Hoa nghĩa sớ, quyển 4 nói: "Cái đạo nhứt thật, lư cùng tột không chi hơn là "đệ nhứt". Có nguyên do như thật gọi là "Nghĩa". 37.- Phật thọ: Tức là cội bồ đề; chỗ Phật thành đạo ở dưới cội cây này gọi là Phật thọ, Đạo thọ hay là Bồ đề thọ. 38.- Cam lồ diệt: Cam lồ dụ cho Niết bàn;chứng đặng Niết bàn, dứt ḍng sanh tử, gọi là "Cam lồ diệt". 39.- Không tâm ư, không thọ hành: là không c̣n tâm niệm vọng tưởng phân biệt và tâm cảm giác xúc thọ, thi vi động tác. 40.- Ba lần chuyển pháp: Tức tam chuyển pháp luân. Khi đức Phật Thích Ca mới thành đạo, nói pháp tứ đế cho 5 thầy Tỳ Kheo ở vườn Lộc Uyển, ba phen nói thành mười hai hành... Pháp của Phật dạy hay dẹp trừ phiền năo của chúng sanh, như bánh xe hay cán dẹp cỏ rác, cát, sạn, nên gọi là Pháp luân. Người nói giáo pháp để chuyển tâm ô nhiễm của chúng sanh thành tâm thanh tịnh gọi là "Chuyển pháp luân". Lại có nghĩa là chuyển ba món: hoặc, nghiệp, khổ trở thành ba đức: Bát nhă, Giải thoát, Pháp thân gọi là ba lần chuyển pháp. 41.- Pháp hải: Biển pháp, Phật pháp rộng lớn khó lường ví như bể cả. 42.- Nhơn bảo: Phật là đấng báu quí hơn hết trong cơi trời và cơi người 43.- Tam giới tôn: Đức Phật là đấng cao cả đầy đủ phước đức hơn hết trong 3 cơi, tất cả nhơn thiên đều cung kính tôn trọng nên gọi là "Tam giới tôn" 44.- Pháp bất cộng: Cũng như thập bát bất cộng, có giải ở số 22. 45.- Đạo sư: Bậc dắt dẫn chúng sanh đi vào chánh đạo; tên chung của Phật và Bồ Tát. 46.- Kiết phược: Các phiền năo ràng buộc thân tâm làm cho không được tự tại giải thoát, nên phiền năo cũng gọi là "kiết phược". 47.- Không tịch: Không các tướng là "Không". Không khởi diệt là "tịch". Rổng rang xa ĺa tất cả tướng, không tâm niệm khởi diệt gọi là hạnh "không tịch". 48.- Pháp tướng: Tướng trạng sai khác của các pháp trong vũ trụ. Sách Đại Thừa Nghĩa Chương quyển 2 nói: "Tất cả pháp hữu vi, vô vi trong thế gian đều gọi là pháp tướng". 49.- Trực tâm: Tâm chơn thật, không dua dối tà vạy; tâm chánh niệm chơn như. 50.- Thâm tâm: Tâm mong cầu Phật quả cao thâm; tâm ưa muốn nhóm góp gieo trồng tất cả công đức cao dày, bền chắc, không thể dứt mất. 51.- Bồ đề tâm: Tâm cầu đạo lư chơn chánh, tâm mong đạo quả chánh giác. 52.- Mười điều lành: Thuận lư khởi tâm đối với cảnh không phạm 10 điều dữ: 1) Sát sanh, 2) Trộm cắp, 3) Tà dâm, 4) Nói dối, 5) Nói lời thêu dệt, 6) Nói hai lưỡi, 7) Nói lời độc ác, 8) Tham, 9) Sân, 10) Si, mà thật hành những điều: phóng sanh, bố thí, phạm hạnh, nói chắc thật, nói lời chơn chánh, nói lời ḥa hiệp, nói lời dịu dàng, chẳng ghét, chẳng giận, chẳng tà kiến. 53.- Ba mươi hai tướng tốt: 1) Trên đỉnh đầu thịt nổi cao lên; 2) Lông trắng chặn giữa hai chơn mày (bạch hào); 3) Tṛng mắt đen trắng phân minh; 4) Lông nheo dài đẹp như của Long vương; 5) Gương mặt tṛn trịa như mặt trăng rằm; 6) Răng đủ 40 cái; 7) Răng nhỏ đều khít khao; 8) Răng trắng trong tinh sạch; 9) Lưỡi rộng dài khi le ra đến chơn tóc; 10) Tiếng nói thanh tao nghe rất xa; 11) Trong cổ hầu thường có chất nước cam lồ rịn ra; 12) Thân ḿnh nở nang tṛn suông; 13) Nam căn ẩn kín; 14) Hai bên hông đầy đặn; 15) Hai tay dài quá gối; 16) Cánh tay và bàn tay da thịt mềm dịu như bông; 17) Ngón tay dài và vót; 18) Vế như vế của Lộc vương; 19) Lưng hai bàn chân no tṛn; 20) Ḷng bàn chân bằng phẳng; 21) Gót chân tṛn trịa; 22) Ḷng bàn chân có chỉ xoáy tṛn rơ ràng như bánh xe ngh́n cọng; 23) Kẽ ngón tay và ngón chân có da mỏng mịn như giăng lưới; 24) Bảy chỗ trong thân đều đầy đặn: (hai ḷng bàn tay, hai ḷng bàn chân, hai vai và yết hầu); 25) Tất cả lỗ chơn lông đều có lông đẹp; 26) Lông và tóc đều xoáy tṛn về phía hữu; 27) Da mịn màng trơn láng; 28) Màu da như màu vàng ṛng tử kim; 29) Thân h́nh cao lớn hơn mọi người; 30) H́nh tướng đoan nghiêm; 31) Thân h́nh ngay thẳng vững vàng; 32) Thường có ánh sáng sắc vàng ṛng chiếu ra một tầm. 54.- Tứ vô lượng tâm: Cũng gọi là tứ đẳng tâm. 1) Từ: ḷng ban vui cho chúng sanh; 2) Bi: ḷng cứu khổ chúng sanh; 3) Hỷ: ḷng vui mừng khi thấy người khỏi khổ được vui; 4) Xả: ḷng không chấp trước chỗ thật hành của ba tâm trên. Từ nơi cảnh sở duyên (chúng sanh) nói là vô lượng; từ nơi tâm năng duyên (Bồ Tát) mà khởi b́nh đẳng nên gọi là đẳng. 55.- Tứ nhiếp pháp: 1) Bố thí nhiếp: Bồ Tát dùng tài pháp bố thí nhiếp dẫn chúng sanh trụ nơi chơn lư; 2) Ái ngữ nhiếp: Bồ tát hay tùy thuận căn tánh của chúng sanh và dùng lời nói hay ho ủy dụ họ trụ nơi chơn lư; 3) Lợi hành nhiếp: Bồ Tát khởi hạnh từ thiện nơi thân, khẩu, ư làm lợi ích cho tất cả chúng sanh, nhơn đó họ được trụ nơi chơn lư. 4) Đồng sự nhiếp: Bồ Tát dùng pháp nhăn thấy rơ căn tánh của chúng sanh, tùy theo chỗ ưa muốn của họ mà phân h́nh thị hiện, khiến họ được thắm nhuần lợi ích, nhơn đó họ được an trụ nơi chơn lư. 56.- 37 phẩm trợ đạo: 4 pháp niệm xứ; 4 pháp chánh cần; 4 pháp như ư túc; 5 căn; 5 lực; 7 pháp giác chi; 8 pháp đạo phần, 37 pháp này giúp cho người tu hành thành tựu được đạo quả, nên gọi là trợ đạo, có giải rơ ở sau. 57.- Hồi hướng tâm: Hồi: Hồi chuyển. Hướng: thu hướng. Hồi hướng là khởi ḷng đại bi cứu độ chúng sanh, xoay chuyển công đức, căn lành hướng về ba chỗ: 1) Chỗ sở chứng chơn như thật tế; 2) Chỗ sở cầu vô thượng Bồ đề; 3) Chỗ sở độ tất cả chúng sanh. 58.- Ba đường ác: 1) Địa ngục, 2) Ngạ quỉ, 3) Súc sanh. 59.- Tám nạn: 1) Địa ngục, 2) Ngạ quỉ, 3) Súc sanh, 4) Trường thọ thiên, 5) Bắc cu lô châu, 6) Đui, điếc, ngọng, liệu, 7) Thế trí biện thông, 8) Sanh trước Phật hay sau Phật. Sở dĩ gọi là tám nạn, là v́ ở tám chỗ này dù cảm thọ quả khổ vui có khác, nhưng đều không được thấy Phật, không được nghe chánh pháp. 60.- Phạm hạnh: Giới hạnh thanh tịnh, hạnh đoạn dâm dục. 61.- Cung trời Tự tại: Cung điện của trời Tự Tại Thiên Vương ở trên chót từng tứ thiền cơi Sắc giới. 62.- Thần túc: Pháp thần thông biến hóa tự tại vô ngại của Phật tu chứng. 63.- Hữu vi: Các pháp có tạo tác, sanh diệt, tức là chỉ tất cả hiện tượng biến thiên trong vũ trụ. 64.- Trần cấu: Nghĩa là bụi nhớp, tức là những sự mê lầm làm cho tâm phải mờ tối. Xa ĺa trần cấu tức dứt hết 88 phẩm kiến hoặc trong ba cơi. 65.- Pháp nhăn thanh tịnh: Thấy rơ được lư chơn thật của các pháp; tiểu thừa chứng được sơ quả, do đă xa ĺa trần cấu kiến hoặc, thấy rơ thật lư pháp tứ đế. Đại thừa chứng được Vô sanh pháp nhẫn vào bực Sơ địa. 66.- Kiết lậu: Các phiền năo kết dệt trong tự tâm, nên phiền năo cũng gọi là "kiết lậu". Kiết lậu đă hết, v́ dứt trừ ḷng ái nhiễm mê đắm không c̣n chấp thọ các pháp nên tâm ư được giải thoát, chứng đến bực vô học (A la hán).
Thuở ấy, trong thành lớn Tỳ Da Ly có ông Trưởng giả tên là DUY MA CẬT, đă từng cúng dường vô lượng các đức Phật, sâu trồng cội lành, đặng vô sanh Pháp nhẫn, biện tài vô ngại, du hí thần thông (2) chứng các môn tổng tŕ (3) đặng sức vô úy, hàng phục ma oán, thấu rơ Pháp môn (4) thâm diệu, khéo nơi trí độ, thông đạt các Pháp phương tiện, thành tựu đại nguyện, biết rơ tâm chúng sanh đến đâu, hay phân biệt rành rẽ các căn lợi độn, ở lâu trong Phật đạo, ḷng đă thuần thục, quyết định nơi Đại thừa. Những hành vi đều khéo suy lường, giữ ǵn đúng oai nghi của Phật, ḷng rộng như bể cả, chư Phật đều khen ngợi. Hàng đệ tử, Đế Thích, Phạm Vương, vua ở thế gian v.v... thảy đều kính trọng. V́ muốn độ người, nên ông dùng phương tiện khéo thị hiện làm thân Trưởng giả ở thành Tỳ Da Ly, có của cải nhiều vô lượng để nhiếp độ các hạng dân nghèo; giữ giới thanh tịnh để nhiếp độ các kẻ phá giới; dùng hạnh điều ḥa nhẫn nhục để nhiếp độ các người giận dữ; dùng đại tinh tiến để nhiếp độ các kẻ biếng nhác; dùng nhất tâm thiền tịch để nhiếp độ kẻ tâm ư tán loạn; dùng trí tuệ quyết định để nhiếp độ những kẻ vô trí; tuy làm người bạch y (5) cư sĩ mà giữ ǵn giới hạnh thanh tịnh của sa môn, tuy ở tại gia mà không đắm nhiễm ba cơi (6), thị hiện có vợ con, nhưng thường tu phạm hạnh; hiện có quyến thuộc; nhưng ưa sự xa ĺa; dù mặc đồ quí báu, mà dùng tướng tốt để nghiêm thân; dù có uống ăn mà dùng thiền duyệt (7) làm mùi vị. Nếu khi đến chỗ cờ bạc, hát xướng th́ ông lợi dụng cơ hội để độ người; dù thọ các Pháp ngoại đạo nhưng chẳng tổn hại ḷng chánh tín; tuy hiểu rơ sách thế tục mà thường ưa Phật Pháp; cung kính tất cả mọi người làm trên hết trong sự cúng dường; nắm giữ chánh Pháp để nhiếp độ kẻ lớn người nhỏ; tất cả những việc trị sanh (buôn bán làm ăn) hùn hiệp, dù được lời lăi của đời, nhưng chẳng lấy đó làm vui mừng. Dạo chơi nơi ngă tư đường cái để lợi ích chúng sanh; vào việc trị chánh để cứu giúp tất cả; đến chỗ giảng luận dẫn dạy cho Pháp Đại thừa; vào nơi học đường dạy dỗ cho kẻ đồng mông; vào chỗ dâm dục để chỉ bày sự hại của dâm dục; vào quán rượu mà hay lập chí. Nếu ở trong hàng Trưởng giả, là bực tôn quư trong hàng Trưởng giả,giảng nói các Pháp thù thắng; nếu ở trong hàng cư sĩ, là bực tôn quí trong hàng cư sĩ, dứt trừ ḷng tham đắm cho họ; nếu ở trong ḍng Sát đế lợi (8), là bậc tôn quư trong ḍng Sát đế lợi, dạy bảo cho sự nhẫn nhục; nếu ở trong ḍng Bà la môn (9), là bực tôn quí trong ḍng Bà la môn, khéo trừ ḷng ngă mạn của họ; nếu ở nơi Đại thần,là bực tôn quí trong hàng Đại thần,dùng chánh pháp để dạy dỗ;nếu ở trong hàng Vương tử, là bực tôn quí trong hàng Vương tử, chỉ dạy cho ḷng trung hiếu; nếu ở nơi nội quan (10), là bậc tôn quư trong hàng nội quan, khéo dạy dỗ các hàng cung nữ; nếu ở nơi thứ dân, là bực tôn quí trong hàng thứ dân, chỉ bảo làm việc phước đức; nếu ở nơi trời Phạm thiên (11), là bực tôn quí trong Phạm thiên, dạy bảo cho trí tuệ thù thắng; nếu ở nơi trời Đế thích (12), là bực tôn quí trong Đế thích, chỉ bày cho Pháp vô thường; nếu ở nơi trời Tứ thiên vương hộ thế (13), là bực tôn quí trong Tứ thiên vương hộ thế, hằng ủng hộ chúng sanh. Trưởng giả Duy Ma Cật dùng cả thảy vô lượng phương tiện như thế làm cho chúng sanh đều được lợi ích. Ông dùng phương tiện hiện thân có bịnh. Do ông có bịnh nên các vị Quốc Vương, Đại thần, Cư sĩ, Bà la môn cả thảy cùng các vị Vương tử với bao nhiêu quan thuộc vô số ngh́n người đều đến thăm bịnh. V́ những người đến thăm bịnh, ông nhơn dịp thân bịnh mới rộng nói Pháp: "Nầy các Nhân giả! Cái huyễn thân này thật là vô thường, nó không có sức, không mạnh không bền chắc, là vật mau hư hoại, thật không thể tin cậy. Nó là cái ổ chứa nhóm những thứ khổ năo bịnh hoạn. Các Nhân giả! Người có trí sáng suốt không bao giờ nương cậy nó. Nếu xét cho kỹ, th́ cái thân này như đống bọt không thể cầm nắm, thân này như bóng nổi không thể c̣n lâu; thân này như ánh nắng dợn giữa đồng, do ḷng khát ái sanh, thân này như cây chuối không bền chắc; thân này như đồ huyễn thuật, do nơi điên đảo mà ra; thân này như cảnh chiêm bao, do hư vọng mà thấy có; thân này như bóng của h́nh, do nghiệp duyên hiện; thân này như vang của tiếng, do nhân duyên thành; thân này như mây nổi, trong giây phút tiêu tan; thân này như điện chớp sanh diệt rất mau lẹ, niệm niệm không dừng; thân này không chủ, như là đất; thân này không có ta, như là lửa; thân này không trường thọ, như là gió; thân này không có nhân, như là nước; thân này không thật, bởi tứ đại giả hợp mà thành; thân này vốn không, nếu ĺa ngă và ngă sở; thân này là vô tri, như cây cỏ, ngói, đá; thân này không có làm ra (vô tác) (14), do gió nghiệp chuyển lay; thân này là bất tịnh, chứa đầy những thứ dơ bẩn; thân này là giả dối, dầu có tắm rửa ăn mặc tử tế rốt cuộc nó cũng tan ră; thân này là tai họa, v́ đủ các thứ bịnh hoạn khổ năo; thân này như giếng khô trên g̣, v́ nó bị sự già yếu ép ngặt; thân này không chắc chắn, v́ thế nào nó cũng phải chết; thân này như rắn độc, như kẻ cướp giặc, như chốn không tụ (15) v́ do ấm (16), giới (17), nhập (18) hợp thành. Các Nhân giả! Hăy nên nhàm chán cái thân này, chớ tham tiếc nó. Phải nên ưa muốn thân Phật. V́ sao? - V́ thân Phật là Pháp thân (19), do vô lượng công đức trí tuệ sanh; do giới, định, tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến (20) sanh; do từ bi hỉ xả (21) sanh; do Bố thí, Tŕ giới, Nhẫn nhục, Nhu ḥa, Cần hành, Tinh tấn, Thiền định, Giải thoát tam muội (22), Đa văn, Trí tuệ các Pháp Ba la mật (23) sanh; do Phương tiện sanh; do Lục thông (24), Tam minh (25) sanh; do 37 phẩm trợ đạo (26) sanh, do Chỉ quán (27) sanh; do Thập lực, Tứ vô sở úy, Thập bát bất cộng (28) sanh; do đoạn tất cả pháp bất thiện, tu các pháp thiện sanh; do chơn thật sanh, do không buông lung sanh; do vô lượng pháp thanh tịnh như thế sanh ra thân Như Lai. Này các Nhân giả! Muốn được thân Phật, đoạn tất cả bịnh chúng sanh th́ phải phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác (29). Như vậy, Trưởng giả Duy Ma Cật v́ những người đến thăm bịnh, mà nói Pháp làm cho vô số ngh́n người đều phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
1.- Phương tiện: Phương là phương pháp, tiện là tiện dụng; phương pháp đem ra dùng thích hợp căn cơ của mỗi chúng sanh, mỗi thời đại, mỗi quốc độ nên gọi là phương tiện. 2.- Du hí thần thông: Phật và Bồ Tát có thần thông tự tại vô ngại, vận dụng hóa độ chúng sanh, làm sự vui chơi của ḿnh, nên gọi là du hư. Lại có nghĩa: Bồ Tát đă lịch thiệp các pháp thần thông, do từ chứng ngộ chơn tánh mà hiển phát, vận dụng xuất nhập dễ dàng như chơi, không điều chi ngăn ngại, chẳng phải như thần thông của nhà ngoại đạo, nhị thừa do tu luyện mà có, c̣n bị ngại, nên gọi là du hí thần thông. 3.- Tổng tŕ: Tiếng Phạn gọi là Đà la ni, Tàu dịch là Tổng tŕ, tức là chỉ cho công năng giữ ǵn các pháp lành khiến cho không mất, các pháp dữ không sanh, chia làm bốn món: 1) Pháp Đà la ni: với các Pháp Phật dạy nghe giữ ǵn không quên. 2) Nghĩa Đà la ni: với nghĩa các pháp giữ ǵn không quên. 3) Chú Đà la ni: do sức thiền định phát ra lời bí mật có thần hiệu không lường. 4) Nhẫn Đà la ni: an trú nơi thật tướng của các pháp. Trong luận Phật Địa, quyển thứ 5 có nói: Đà La ni là sức tăng thượng của niệm tuệ hay giữ ǵn vô lượng Phật pháp. 4.- Pháp môn: Giáo pháp của Phật nói ra là phép tắc khuôn mẫu cho thế gian. Các bậc Hiền, Thánh nương vào đó mà được nhập đạo, gọi là Pháp môn. Kinh Pháp Hoa, phẩm Phương Tiện nói "... dùng chữ pháp môn tỏ bày Phật đạo". 5.- Bạch y: Danh từ xưng gọi người thế tục, v́ người thế tục ưa thích mặc y phục trắng nên gọi là "Bạch y". 6.- Ba cơi: Dục giới, Sắc giới, Vô Sắc giới. 7.- Thiền duyệt: Sự vui thích trong cảnh thiền định. Khi nhập vào cảnh thiền định được nhàn tịnh, thư thới làm cho vui thích tâm thần. 8.- Sát Đế Lợi: (Ksatriya) tàu dịch là Điền chủ, gịng vua ở xứ Ấn Độ. Một họ trong bốn họ: 1)Sát đế lợi, 2)Bà la môn, 3)Tỳ xá, 4)Thủ đà. 9.- Bà la môn: (Brahmana) Tàu dịch là Tịnh hạnh, một gịng họ tu hạnh trong sạch, thờ trời Đại phạm thiên, ở xứ Ấn độ. 10.- Nội quan: Quan Bộ lại trong cung cấm nhà vua 11.- Phạm thiên: Hoặc Đại phạm thiên vương là vua cơi trời sơ thiền nơi Sắc giới. Cơi sơ thiền có 3 từng trời: 1) Phạm chúng, 2) Phạm phụ, 3) Đại phạm, đă xa ĺa sự dục nhiễm ở cơi Dục giới, thân tâm yên tịnh trong sạch nên gọi là Phạm thiên. 12.- Đế Thích: Là vị trời chủ tể cơi Đao Lợi Thiên trên chót núi Tu Di. Từng trời này có 33 cơi mà vị Đế Thích ở cơi chính giữa thống lănh 32 cơi kia 13.- Tứ Thiên Vương hộ thế: Bốn vị ở bốn phía ngang lưng chừng núi Tu Di, làm vị ngoại tướng giúp đỡ trời Đế Thích coi sóc dân gian, mỗi vị ủng hộ mỗi châu thiên hạ nên gọi là Tứ Thiên Vương hộ thế: 1) Tŕ quốc thiên vương ở phương đông; 2) Tăng trưởng thiên vương ở phương nam; 3) Quảng mục thiên vương ở phương tây; 4) Đa văn thiên vương ở phương bắc 14.- Vô tác: Không có thi vi tạo tác, là ư nói cái thân do nhân duyên hiệp thành, không có chủ tể nên nó không tự động tác chuyển vận được. 15.- Như chốn không tụ: Như chỗ tụ lạc (xóm làng) trống không, vắng vẻ có bọn giặc cướp nương ở, hoặc chỗ đồng trống có ác quỉ nhóm họp, là chỗ đáng ghê sợ, đáng nhàm chán không thể nương ở được. Thân con người cũng như thế, do tứ đại hợp thành là đống không trơn, lại là ổ chứa nhóm tội lỗi, chịu mọi sự thống khổ bịnh hoạn già chết ép ngặt, nên đáng nhàm chán xa ĺa cũng như chốn không tụ kia. 16.- Ấm: Năm ấm: sắc, thọ, tưởng, hành, thức. 17.- Giới: 18 giới: 6 căn: nhăn, nhĩ, tỹ, thiệt, thân, ư; 6 trần: sắc, thinh, hương vị, xúc, pháp; 6 thức: nhăn thức, nhĩ thức, tỹ thức, thiệt thức, thân thức, ư thức. 18.- Nhập: 12 nhập: sáu trần: sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp, xung nhập với 6 căn: nhăn, nhĩ, tỹ, thiệt, thân, ư. 19.- Pháp thân: Là pháp giới tánh hay là chơn như. Thân có nghĩa là nhóm họp, nên Pháp thân là chỗ sở y chứa nhóm tất cả công đức Pháp tánh. Lại đức Phật lấy pháp tánh chơn như làm thân, nên gọi là pháp thân. 20.- Giới, Định, Tuệ, Giải thoát, Giải thoát tri kiến: Năm món này gọi là ngũ phần Pháp thân: 1) Thân, khẩu, ư xa ĺa tất cả tội lỗi gọi là giới. 2) Chơn tâm đứng lặng ĺa tất cả vọng niệm gọi là Định. 3) Chơn trí sáng suốt chiếu tỏ các pháp gọi là Tuệ. 4) Thân tâm giải thoát không bị triền phược gọi là giải thoát. 5) Biết ḿnh thật giải thoát gọi là giải thoát tri kiến. Người tu hành nhờ giới, định, tuệ làm nhơn mà chứng được thể giải thoát, giải thoát tri kiến của Pháp thân là quả, nên gọi là ngũ phần pháp thân. 21.- Từ, bi, hỉ, xả: Xem số 5 về phần chú thích ở phẩm trước. 22.- Tam muội: Tàu dịch là Định Tâm, định trụ một cảnh, xa ĺa những sự loạn động. 23.- Ba la mật: (Paramita) Tàu dịch có ba nghĩa: 1)Cứu cánh. 2) Đáo bỉ ngạn. 3) Độ vô cực. Danh từ Ba la mật này là do đại hạnh của các vị Bồ Tát mà đặt tên. Chính ḿnh thật thành đại hạnh và giáo hóa cho người đến chỗ rốt ráo nên gọi "sự cứu cánh". Nương theo đại hạnh của Bồ Tát được từ bờ sanh tử bên này tới bờ Niết bàn bên kia, nên gọi "đáo bỉ ngạn". Nhờ đại hạnh mà được các pháp rộng răi sâu xa không bờ bến, nên gọi "Độ vô cực". 24.- Lục thông: Sáu món thần thông: 1) Thiên nhăn thông: con mắt thấy xa đến cả đại thiên thế giới, những vật nhỏ nhít như vi trùng, những vật có chất ngại, cản trở đều thấy được hết, thấy rơ các chúng sanh trong nhiều kiếp lâu xa, chết ở cơi nào, sanh về cơi nào đều thấy rơ rệt. 2) Thiên nhĩ thông: lỗ tai nghe xa đến cả thế giới, nhẫn đến tiếng rung động hết sức nhỏ, những tiếng nói của các loại đều nghe được hết. 3) Tha tâm thông: hiểu biết được tâm niệm tư tưởng của tất cả chúng sanh. 4)Túc mạng thông: biết rơ những kiếp trước của ḿnh và của chúng sanh không điều ǵ ngăn ngại. 5) Thần túc thông: được các pháp thần thông biến hóa tự tại. 6) Lậu tận thông: trừ sạch hết thảy phiền năo. 25.- Tam minh: 1)Túc mạng minh: biết được những việc sống chết đời trước của ḿnh và của tất cả chúng sanh. 2)Thiên nhăn minh: biết được những việc sống chết đời sau của ḿnh và của tất cả chúng sanh. 3)Lậu tận minh: biết được những sự khổ hiện tại, dùng trí tuệ trừ sạch hết các phiền năo. 26.- Ba mươi bảy phẩm trợ đạo: 4 pháp niệm xứ; 4 pháp chánh cần; 4 pháp như ư túc; 5 căn; 5 lực; 7 pháp giác chi; 8 pháp đạo phần, 37 pháp này giúp cho người tu hành thành tựu được đạo quả nên gọi là trợ đạo 4 pháp niệm xứ: niệm là tâm năng quán (tâm hay quán sát), xứ là cảnh sở quán (cảnh bị quán sát). V́ chúng sanh vọng chấp thân ngũ ấm này, nên Phật nói 4 phép quán để đối trị: 1) Quán thân bất tịnh: Quán sát thân này là vật nhơ bẩn. 2) Quán thọ là khổ: Quán sát sự thọ lănh của thân tâm là khổ. 3) Quán tâm vô thường: Quán sát tâm thức luôn luôn sanh diệt không thường trụ. 4) Quán sát vô ngă: Quán sát các pháp không có chủ tể. 4 pháp chánh cần: 1) Đoạn những ác pháp đă sanh; 2) Đoạn những ác pháp chưa sanh; 3) Làm cho các pháp lành tăng trưởng; 4) Làm cho các pháp lành chưa sanh được sanh. 4 pháp như ư túc: 1) Dục như ư túc: có tâm ham muốn tu tập các pháp lành th́ được như ư. 2)Niệm như ư túc: quán sát cảnh ǵ mà nhứt tâm chuyên chú vào đó th́ được như ư, 3) Tinh tấn như ư túc: do tinh tấn mà tu tập các pháp lành được như ư, 4) Tư duy như ư túc: do suy nghĩ mà tu tập được kết quả. 5 c |