Chùa Hải-Đức in Jacksonville
|
Linh
Sơn Pháp
Bảo Đại
Tạng Kinh
Trúc
Pháp Hộ,
đời Tây
Tấn, dịch
từ chữ
Phạn sang chữ
Hán Kinh Chánh Pháp Hoa
SỐ 263
KINH CHÁNH PHÁP HOA (KINH HOA CHÁNH PHÁP)
Hán dịch: Đời Tây Tấn, Tam tạng Pháp sư Trúc Pháp Hộ,
người nước Nguyệt Thị.
KINH CHÁNH PHÁP HOA
Lúc bấy giờ Tôn-giả Tu-bồ-đề, Ca-chiên-diên, Đại Ca-diếp, Đại Mục-kiền-liên… được nghe pháp lớn chưa từng có, vốn chưa từng nghe và thấy Đức Thế Tôn thọ kư cho Tôn-giả Xá-lợi-phất sẽ thành đạo Vô thượng chánh chân, vừa mừng vừa sợ, phấn chấn, đều từ chỗ ngồi đứng dậy, đến trước chỗ Đức Thế Tôn, sửa y, để trần vai phải, quỳ gối, chắp tay chiêm ngưỡng Đức Thế Tôn mà trong ḷng hân hoan, sáng suốt, thân tâm cảm thấy khoan khoái, nhẹ nhàng, tâm trí chuyên nhất bạch Đức Thế Tôn: - Kính bạch Đấng Đại Thánh! Chúng con đứng đầu chư Tăng, tuổi già suy yếu. Kính mong Thế Tôn cho chúng con được Niết-bàn. Tâm chí của chúng con vẫn mong cầu đạo Vô thượng chánh chân, nhưng sức tinh tấn của chúng con đă suy giảm, khôn thể kham nhận việc ǵ nữa. Như Lai trước đây giảng pháp, chúng con theo thứ tự ngồi an định trong chúng lắng nghe, không dám mỏi mệt hay nhàm chán. Lúc ấy Như Lai v́ chúng con thuyết pháp. Chúng con đă được ở nơi Không, Vô tướng, Vô nguyện, cho đến các pháp của Phật, không tạo tác đối với tất cả pháp, ưa thích các việc làm của chư Bồ-tát, Như Lai đă nhiều lần khuyến khích giáo hóa chúng con nhưng chúng con đối với ba cơi chỉ muốn vượt qua, thường tự suy nghĩ cho rằng ḿnh đă đạt được Niết-bàn. Nay tâm chúng con đă mỏi mệt. Lúc vừa nghe Thế Tôn chỉ dạy giáo nghĩa kỳ diệu chúng con đều chẳng có một ư niệm ham thích đối với Tuệ giác vô thượng. Thế mà nay Thế Tôn lại thọ kư cho hàng Thanh văn sẽ thành Chánh giác nên tâm chúng con rất bàng hoàng, kinh ngạc chưa từng có. Chúng con được lợi lành lớn, đă phải nỗ lực tu tập nên mới được nghe phẩm kinh như thế này. Chúng con theo chư Phật quá khứ thường được nghe pháp ấy nên khi vừa được nghe, chúng con như người được vô lượng ngọc báu, thỏa măn chí nguyện mong mỏi. Chúng con hiện nay ở tại thế gian mà tâm vô sở úy, tiếng trống, nhạc vi diệu tự nhiên trổi lên, ngọn đèn vĩ đại chiếu rọi khắp nơi, rừng cây Chiên-đàn tỏa hương ngào ngạt. Bạch Thế Tôn! Chúng con há có thể kham nhận được pháp lớn mà Thế Tôn đă nói hay sao? Đó là điều chúng con xin thưa thỉnh. Lúc ấy các vị Thanh văn cùng nhau thưa với Đức Phật: - Thuở xưa có người con bỏ cha trốn đi lưu lạc đến địa phương khác sáu mươi năm, rong ruổi bốn phương t́m cầu cơm áo, luôn bị nghèo cùng khốn khổ, chẳng có chút tài sản nào. Người cha có việc đến địa phương ấy. Ông có vô số vàng bạc châu báu, thủy tinh, lưu ly, xa cừ, mă năo, san hô, hổ phách chứa đầy trong kho, kẻ hầu hạ, xe cộ, voi ngựa nhiều vô số kể, quyến thuộc đông đảo, bảy báu đầy ắp, thu chi tiền bạc, trồng trọt cày bừa, khách thương buôn bán cũng rất đông đảo. Người con nghèo đói phải đi khắp nơi làng mạc, thôn xóm, phố phường trong nước để xin ăn. Lúc ấy đang là mùa thu, ông trưởng giả giàu có đi vào thành xem xét các kho báu. Người cha, cùng con biệt ly đă lâu bỗng nhiên nhớ đến con, không biết con ḿnh ở đâu. Ông tự nghĩ: “Ta có nhiều của cải đầy khắp gần xa mà lại chỉ có một ḿnh. Nếu mai này ta chết đi th́ của cải ấy sẽ tiêu tan. Ta chỉ mong được gặp lại con ta, tha hồ cho nó sự ăn mặc và giao tài sản cho nó, ta sẽ an vui không c̣n lo nghĩ.” Khi ấy người con nghèo khổ lần hồi đến nhà ông trưởng giả, đứng trước của nhà nh́n vào, từ xa trông thấy người cha ngồi trên ngai sư tử được làm bằng vàng bạc và các vật quư báu, có các Bà-la-môn và mọi người kính cẩn vây quanh, có rèm báu kết ngọc và người cha ngồi trong đó để sai bảo, cắt đặt công việc cho mọi người trong các bộ phận. Dưới đất được rải đầy các thứ hoa quư, trăm ngàn muôn ức vàng dùng làm đồ dùng ăn uống. Người con nghèo thấy ông trưởng giả tư thế oai nghiêm như vậy nên rất sợ hăi, không biết vị ấy là ai, cho rằng người này là vua hoặc ngang hàng với vua, do dự không dám tiến bước, nghĩ vậy nên bỏ chạy thật mau. Người cha trông thấy con ḷng rất vui mừng, sai người hầu cận chạy theo gọi người con ấy quay về. Người con kinh hăi lăn xuống đất, nói với người theo bắt: - Tôi không có xúc phạm ǵ đến các người, tại sao lại bắt tôi? Người hầu dẫn người con đem về cho trưởng giả. Trưởng giả bảo: - Chớ nên sợ hăi như thế. Ta v́ con mà gầy dựng sự nghiệp với những kho tàng đầy ắp. Cha con biệt ly đă lâu không gặp, ta nay tuổi già suy yếu, cha con t́nh sâu nghĩa nặng mới đem con vào nhà này. Người cha không nói điều này với ai. V́ sao? V́ người cha biết ư chí con ḿnh nghèo hèn hạ tiện, không biết phước lực của cha. Một thời gian lâu sau, người con tâm ư thông hiểu, sắc mặt an ḥa, biết được tên ḿnh và quen dần với các vật quư giá, vị trưởng giả liền nói: - Đây chính là con của ta. Rồi ông dùng phương tiện bảo người con: - Nay con muốn làm ǵ tùy ư. Người con nghèo khổ rất kinh ngạc như được sự chưa từng có, liền đứng dạy đi đến xóm nghèo t́m kiếm cơm áo. Người cha hiểu con nên dùng phương tiện bảo anh ta: - Con cứ tự nhiên đến với họ. Sau khi người con đến, vị trưởng giả lại sai người đến bảo với anh ta: - Ngươi hăy đến ngôi nhà kia, ở đấy đang cần người đánh xe. Vị trưởng giả cho anh ta voi, ngựa, sai tập làm quen dần với những việc tầm thường. Nếu có ai hỏi anh ta cũng đáp là làm người đánh xe. Người cha bảo con: - Ngươi phải điều khiển xe, ngựa và quản lư các vật báu trong nhà, tùy ư thích của ngươi, ta sẽ ban phát cho. Người con muốn ǵ, người cha cũng chu cấp cho đầy đủ như lời đă nói. Khi ấy người con tập điều khiển ngựa, xe và quản lư rất kỹ lưỡng các châu báu và c̣n dạy dỗ cho những kẻ lớn nhỏ trong nhà. Người cha ở bên cửa sổ từ xa trông thấy con ḿnh làm việc giỏi dang, ông liền cởi chiếc áo cũ đă mặc, tắm gội sạch sẽ, tay phải kỳ cọ, mặc y phục đẹp đẽ, đeo chuỗi ngọc quư, toàn thân sạch sẽ, sáng sủa. Ông bảo với đứa con: - Từ trước đến nay con đă xây dựng được cơ nghiệp ǵ không? V́ việc ǵ mà bỏ ta đi nơi khác đến nỗi bị khổ sở đói lạnh? Ta đă già yếu rồi, nay thật t́nh khuyên con rằng đă đến lúc con nên cưới vợ, vui chơi, ăn uống để nối dơi phước nhà. Sản nghiệp ta đă tạo nhiều không kể xiết, đầy đủ đồ quư báu, con có biết không? Ta mong ngóng con đă nhiều năm qua, mà con lại đi thân cận với bạn ác nay mới quay về. Con phải trừ bỏ những thói quen tật xấu ấy. Ta có viên ngọc dạ quang minh vô cùng quư giá sẽ đem cho con, kẻ hầu hạ, tôi tớ nam nữ lớn nhỏ tùy ư con muốn, tất cả đều giao cho con. Ta luôn thương nhớ con cũng như quốc vương may mắn gặp thái tử của họ. Các ví Thanh văn cùng thưa Phật: - Bạch Thế Tôn! Khi ấy người con nghèo khổ đă ĺa xa gia đ́nh hơn sáu mươi năm, trôi giạt khắp nơi, đến nhà trưởng giả mới gặp người thân, suy nghĩ trước và sau khi gặp cha, tâm đều nhớ hết những việc đă làm. Khi ấy vị trưởng giả nằm trên giường bệnh, biết ḿnh sắp chết mới bảo người con: - Ta nay đă sức cùng lực kiệt. Con nên kế thừa sản nghiệp đồ sộ của ta. Tất cả tài sản kho tàng quư báu trong nhà, nếu con nhận lănh, đem giúp đỡ những người nghèo thiếu, sử dụng tùy ư. Người con nghe cha dạy xong vui mừng khôn xiết, nguyện sẽ thực hành không trái lời hứa. Người cha biết chí con nên thân hành dạy bảo, trước nghèo sau giàu càng thêm vui mừng, tôn kính than thuộc, lễ bái các bậc Trưởng lăo. Người cha ở trước vua, đại thần và mọi người tuyên bố: - Xin các ngài biết cho, người này là con trai của tôi, do tôi sinh ra, tên đó họ đó. Con tôi đă bỏ tôi lưu lạc khắp nơi sáu mươi năm nay mới gặp nhau. Nó là con của tôi, tôi chính là cha nó. Bao nhiêu cửa cải, tài sản của tôi đều là của con tôi. Người con nghe cha tuyên bố với mọi người ḷng càng thêm vui mừng, tự nghĩ: “Ta đời trước có phước báo ǵ mà được lănh kho tàng quư báu này?” Các vị Thanh văn lại thưa: - Bạch Thế Tôn! Ông trưởng giả giàu có ấy ví như Thế Tôn. Chúng Thanh văn Hữu học chúng con được gọi là con của Phật. Ngài cửu giúp chúng con thoát khỏi nỗi khổ trong ba cơi, như ông trưởng giả giàu có trở lại đưa đứa con thoát khỏi sự sống chết. Khí ấy, bạch Thế Tôn, Thế Tôn có vô số pháp bảo của bậc Thánh, dùng năm thần thông đoạn trừ màn ngăn che của năm ấm. Chúng con luôn tinh tấn tu tập theo giáo pháp ấy, đạt đến Niết-bàn cho là ấn chứng vi diệu, tinh tấn mong cầu không giải đăi, muốn được giải thoát tâm ư vắng lặng, nhờ tự thân tư duy thành thục nên đạt được rất nhiều. Nhưng Thế Tôn biết tâm lư chúng con vốn nương vào pháp thực hành, siêng tu thiền định và thường tin ưa, v́ thấy chúng con lười biếng, tâm chí hạ liệt, không phân biệt, không có chí nguyện đối với kho pháp bảo quư giá của Như Lai, nên Thế Tôn đă dùng phương tiện chỉ cho chúng con thấy rơ kho tàng tuệ giác ấy, nhờ nó mà trừ được đói khổ và được trao ấn chứng vi diệu. Kính bạch Thế Tôn! Ngày nay chúng con tuổi đă già, như Tôn-giả Đại Ca-diếp đây được Như Lai ấn chứng rất sớm là sẽ đạt đến giải thoát. Thế Tôn lại v́ chúng con mà thị hiện giáo nghĩa trí tuệ lớn của Bồ-tát. Chúng con phụng hành và đem chỉ dạy cho mọi người. Như Lai đă hiển bày đức lớn đều làm cho chúng con được thể nhập giáo nghĩa Như Lai. V́ sao? V́ Thế Tôn đă khéo dùng tất cả phương tiện biết chúng con ư chí thấp hèn, không hiểu nổi giáo pháp sâu xa nên dạy hạnh Thanh văn. Chúng con sợ hăi các pháp trong sinh, già, chết ba cơi và các pháp sắc, thanh, hương, vị, xúc thô hèn, chỉ muốn tự độ mà không cứu độ tất cả chúng sinh, xa ĺa phương tiện quyền biến, trí tuệ, đại Từ bi, thiền định Tam-muội, chỉ biết nhân tâm mà không thấy được căn nguyên của tất cả chúng sinh. Ví như kẻ nghèo cùng mong cầu cơm áo, người cha ân cần muốn đem đến an lạc cho con, nhưng người con không hề hay biết. Thế Tôn dùng phương tiện tùy lúc thị hiện nên chúng con không nhận thấy, nay mới tự biết ḿnh chính là con Phật. Chúng con đă được Phật xót thương ban cho đại trí tuệ. V́ sao? V́ chúng con tuy là con Phật mà lại hạ tiện, khiếp nhược. Đến khi thấy tâm chúng con hoan hỷ kính tin Bồ-tát thừa nên Như Lai sau đó mới nói cho pháp lớn Đại thừa. Thế Tôn đă v́ hai việc mà nói pháp ấy: 1. V́ chư Bồ-tát nên Như Lai hiện pháp cam lộ. 2. V́ hạng người thấp hèn, chí nguyện nhỏ nên Như Lai khuyến khích, chuyển hóa họ đi vào giáo nghĩa vi diệu. Ví như người con kia cùng cha biệt ly nhau đă lâu, trên đường từ xa trông thấy cha không biết là ai nên rất sợ hăi, dần dần về sau nh́n cách thể hiện uy nghi mới biết đó là của ḿnh. Phật cũng như vậy, chúng con không hiểu rơ pháp lớn của Bồ-tát, tuy là con của Như Lai, từ pháp sinh ra nhưng chỉ mong Niết-bàn, không có ư chí ngồi dưới gốc cây nơi đạo tràng hàng phục ma quân và độ thoát tất cả chúng sinh. Bọn chúng con tự cho rằng đă được giải thoát. V́ lư do đó nên ngày nay chúng con thấy, nghe mà chưa được thành tựu, không phải là bậc xuất gia, chưa trở thành bậc Sa-môn. Hôm nay Thế Tôn hiện các trí tuệ siêu tuyệt nên chúng con đă đạt được pháp trân bảo của Phật. Đức Phật là cha, chúng con là con, cha con đồng một thể tánh, không có sai khác. Giống như vị trưởng giả khi sắp mạng chung, ở trước đại chúng tuyên bố cùng vua, quan, Bà-la-môn, trưởng giả và tất cả mọi người: “Hôm nay ta đem tất cả kho tàng châu báu để ban cho con ta.” Người con nghe xong vui mừng như được điều chưa từng có. Thế Tôn cũng như vậy, ban đầu dạy pháp Tiểu thừa tạm thời làm cho chúng con được an lạc, nhưng sau cùng Ngài v́ bốn chúng Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, tất cả chư Thiên và loài người mà hiển bày giáo nghĩa căn bản. Thế Tôn khéo dùng phương tiện thuyết pháp tam thừa, không hề có hai thừa, huống ǵ có ba? Các vị Thanh văn này đều sẽ thành Phật. Chúng con vô cùng hân hoan không kể xiết. Khi ấy Tôn-giả Đại Ca-diếp nói lại kệ rằng: Chúng con hôm nay Được nghe pháp âm Ngạc nhiên vui mừng Được chưa từng có V́ thế cho nên Tâm rất hoan hỷ Lại biết Đạo Sư Thanh âm êm dịu Trân bảo tôn quư Chứa nhóm thật nhiều Tập hợp các báu Ban cho chúng con Chưa hề nghĩ đến Cũng chẳng mong cầu Được nghe pháp sâu Tâm rất phấn chấn. Ví như trưởng giả Có một người con Bé thơ không biết Ngu si mê muội Tự bỏ cha ḿnh Đi đến nước khác Trôi nổi xứ lạ Gặp nhiều hiền nhân. Khi ấy trưởng giả Lo sầu nhớ con Về sau nghe biết Vội vă kiếm t́m Dạo khắp mười phương Ḷng thường lo nghĩ Cha con cách biệt Đă sáu mươi năm Thăm hỏi mọi người Muốn được gặp con Liền đến xứ khác Vào thành lớn kia Dừng chân ở đó Xây dựng lâu đài Đầy đủ trang nghiêm Thọ lạc năm dục Vô số vàng ṛng Và các châu báu Của cải quư giá Minh châu, ngọc bích Voi, ngựa, cộ xe Rất nhiều vô số Gia súc trâu, heo Gà, vịt, dê, lừa Thu chi lời lăi Buôn bán, cấy cầy Tôi tớ hầu hạ Nhiều không kể xiết Các sự tôn quư Có vạn ức người Lại được vua mến Oai như quốc vương Tất cả dân chúng Kính trọng hướng về Quan quyền thân thích Ai cũng tôn trọng Ví nhiều duyên cớ Người đến tấp nập T́m kiếm rất đông Không thể kể hết Giàu mạnh như vậy Mà luôn than khóc Ta đă già nua Chí lực suy yếu Ḷng thường suy nghĩ Muốn được gặp con Ngày đêm nghĩ nhớ Không lúc nào nguôi Hỏi nghe tin con Ḷng thêm phiền muộn Con dại bỏ ta Hơn sáu mươi năm Kho tàng ta có Tài sản lớn nhiều Nếu ta chết đi Ai người giao phó Kế thừa cho ta Người con ngu si Nghèo cùng khốn khổ Thường t́m cơm áo Dạo khắp các nơi Ưu lo suy nghĩ Miệt mài khắp chốn T́m cầu dè sẻn Phiêu bạt xa xôi Tự lo sinh sống Có khi được của Lúc chẳng có ǵ Khốn đốn tha hương Ưu tư lo lắng Bức xúc trong ḷng Gian lao khổ sở Lần lượt trải qua Đi không dừng nghỉ Dần dần đi đến Chỗ ở của cha Quanh co lui tới T́m kiếm áo cơm Từ từ tiến gần Đến ngôi nhà ấy Liền đến trước cửa Từ xa trông thấy Vị đại trưởng giả Ngồi ngai sư tử Đông người hầu hạ Quyến thuộc vây quanh Tiền của thu chi Và đem bố thí Có rất đông người Đi theo phục dịch Hoặc người tính toán Vàng bạc châu báu Ghi chép giấy tờ Phân phối từng ban Thu chi riêng biệt Tính toán ít nhiều. Khi ấy gă nghèo Thấy cảnh như vậy Đứng qua bên đường Quán sát họ làm Tự thân suy nghĩ Sao ta đến đây Đây chắc là vua Hoặc là thái tử Nêu không sao vậy Sẽ bắt trói ta Nếu như không đi Bị ép sai khiến Suy nghĩ như thế Người nghèo bỏ chạy Đời không trọng nghèo Chẳng ưa kẻ thiếu, Khi ấy trưởng giả Ngồi ngai sư tử Xa thấy con ḿnh Thầm lặng vui mừng Sai ngay người hầu Đuổi theo giữ lại Gọi kẻ nghèo kia Đến đây ta gặp. Người hầu vâng lời Đuổi theo bảo rằng Buộc ngươi phải về. Gă té xuống đất Kinh hăi nghĩ thầm Vô cớ bị hại Sao lại bi bắt Họ muốn ǵ đây. Trưởng giả giàu có Thấy con ngă lăn Thương xót con ḿnh Vô cùng hạ liệt Cũng không tin rằng Ta là cha nó Lại vẫn nghi ngờ Không xét của cải. Người cha phủ dụ Nói với kẻ nghèo Ta có vàng ṛng Cất chứa tại đây Sẽ cấp cho ngươi Đủ thức ăn uống Giữ ǵn trông coi Phục dịch các việc Châu báu ta có Bị hư cũ nhiều Bỏ nơi nhơ nhớp Không ai sửa dùng Ngươi hăy tùy tiện Lấy làm của riêng Của cải ta nhiều Không ai dùng hết. Người nghèo nghe bảo Những lời như thế Bèn vội tới nơi Vâng lệnh thi hành Theo lời trưởng giả Không dám trái lệnh Liền vào trong nhà Sửa sang các việc. Khi ấy trưởng giả Bên trong cửa sổ Quán sát người con Biết làm thế nào Tuy là con ta Mà quá hạ liệt Chỉ biết tính toán Điều khiển xe thôi. Ông từ trên lầu Đi xuống dưới đất Cởi áo nhơ bẩn Thay đồ sang trọng Đi thẳng đến chỗ Làm việc của con Bảo con đứng dậy Cần làm việc ǵ Ta sẽ cho ngươi Rất khó gặp ngươi Nhân đức bố thí Xoa bóp chân ta Rượu nồng ngon ngọt Cấp cho thực phẩm Giường ghế đồ dùng Ngựa xe không thiếu Lúc đó ta sẽ Cưới vợ cho ngươi. Trưởng giả thông tuệ Dần dà dạy bảo: Con nên nhận lănh Các việc của ta Ví yêu mến ngươi Tâm đừng nghi ngại Người con lần hồi Vào trong nhà cha Buôn bán cai quản Tính toán thu chi Không để thiếu hụt Ngày càng phát đạt Đi tới đi lui Răn dạy tôi tớ Các món bảo vật Ngọc sáng lưu ly Đều đem cất giữ Kho tàng trong nhà Tất cả các chỗ Đều biết tính toán Suy nghĩ biết rơ Lợi của tài sản Nhưng v́ ngu si Riêng giữ kho nhỏ Không bằng như cha Ở tại bên ngoài. Khi ấy gă nghèo Một ḿnh suy nghĩ Người khác không có Kho báu như ta Người cha biết được Ư chí con ḿnh Nó tự cho rằng Được giàu vô tận. Liền gọi con đến Tư thân dạy bảo Ta muốn giao phó Tài sản của ta Nên bảo ngươi rằng Ta có tất cả Vọ số tài sản Sinh hoạt buôn bán Tụ tập mọi người Trước mặt quốc vương Trưởng giả, Phạm chí Các bậc Hiền nhân Sai người công bố Lớn nhỏ gần xa Đây là con tôi Bỏ tôi trốn đi Đến nơi nước khác T́m cầu ăn mặc Vô cùng nghèo khổ Nay mới trở về Cùng tôi xa cách Hơn sáu mươi năm Nay đến nước này Mới được gặp lại Ở nơi thành ấy Mà quên mất tôi Nơi đây kiếm sống Tư nhiên đến đây Tài sản của tôi Không thiếu thứ ǵ Sản nghiệp hiện tại Rất là đầy đủ Tất cả đều đem Giao phó cho con Con sẽ giữ ǵn Cơ nghiệp của cha. Người con vui mừng Việc chưa từng có Ta vốn nghèo nàn Của cải tự đến Người cha biết con Ư chí thấp hèn Được các kho báu Ngày nay an ổn Đấng Đại Đạo Sư Giáo hóa chúng con Chúng con thấp hèn Vui ưa pháp nhỏ Phật độ chúng con Khiến được an ổn Rồi Ngài thọ kư Sẽ thành Phật đạo An trụ nơi đây Lập hạnh rất nhiều Vô số Bồ-tát Tuệ lực vô lượng Chỉ bày phân biệt Đạo lớn tối thượng Ca ngợi các duyên Muôn ngàn thí dụ Chúng con được nghe Là con Đức Phật Nên gắng phụng hành Đạo lớn tối thượng Nơi đáng kiến lập Cho người mắt tuệ Sẽ ớ thế gian Được thành Phật đạo V́ Đấng Thế Tôn Thực hành như thế Nuôi dưỡng ủng hộ Nơi giáo pháp này Phân tích giảng nói Tuệ nghĩa tối tháng Rồi sẽ cảm hóa Tất cả chúng sinh Chí nguyện chúng con Tâm nghèo suy nghĩ Nếu như được nghe Những lời Phật dạy Không chịu phát khởi Trí tuệ Như Lai Thấy Bậc Tối Thắng Tuyên nói nghĩa đạo Trong ḷng tư nghĩ Đă được Niết-bàn Không có mong cầu Trí tuệ tối thượng Nhờ nghe Thế Tôn Chư Phật các cơi Được ư hy hữu Sinh tâm vui mừng Nơi pháp vắng lặng Tất cả vô lậu Đă được dứt trừ Sau được diệt độ. Do tư duy này Không thành Phật đạo Nỗ lực tu hành Siêng trừ kiêu mạn Giáo nghĩa chư Phật Vi diệu tối thượng Chưa từng khuyên giúp Chỉ trụ Niết-bàn Cho là cứu cánh Tối thắng trọn vẹn Được pháp vô vi Xả bỏ ấm, cái Ngày đêm tinh cần Tu pháp nghĩa không Thoát khỏi khổ đau Năo phiền ba cơi Thế Tôn dạy bảo Dùng các nhân duyên Và các thí dụ Đầy đủ các pháp Diễn nói tối thắng Thân sinh trí tuệ Nếu như có người Mong thành Phật đạo Chúng con v́ họ Ban cho Pháp sự Họ đạt nhưng con Không thích bao giờ Đấng Đại Đạo Sư Khắp cơi thế gian Quán sát tất cả Những người như con Lo sợ các việc Làm cho lợi ích Ân cần khuyên bảo Khiến con tin ưa Phương tiện quyền biến Giống như người cha. Ví như trưởng giả Vô cùng giàu có Biết chí con ḿnh Bần cùng hạ liệt Mới đem châu báu Ban phát cho con; Đấng Đại Đạo Sư Nói pháp hy hữu Phân biệt, chỉ bày Khéo dùng phương tiện Biết rằng chúng con Chí thích thấp hèn Điều phục tâm con Mới ban pháp lớn. Chúng con ngày nay Đạt được vô lượng Pháp chưa từng có Như nghèo được của Đức Phật giáo hóa Được đạo quư báu Các lậu đoạn trừ Ngày đêm tu tập Giới cấm, thiền định Thọ tŕ giáo nghĩa Tuân lời Đạo Sư Nay con đă đạt Đạo lớn Thế Tôn. Quyến thuộc vây quanh Tu hành tinh tấn Nỗ lực ngày đêm Phạm hạnh thanh tịnh Nương Đấng Pháp Vương Tuệ giác sâu xa Mà được đầy đủ Quả đức Vô thượng Thành tựu vi diệu Các lậu không c̣n. Chúng con hôm nay Mới là Thanh văn Mới được nghe rơ Phật đạo tối thượng Được Phật hiển bày Pháp âm toàn giác Do đă được nghe Vượt khỏi sợ hăi. Hôm nay mới thành Bậc Vô Sở Trước Đem pháp ly thủ Giảng cho chư Thiên Thế nhân, ma vương Và cho Phạm thiên Tất cả quyến thuộc Các loại chúng sinh Khắp chúng hữu t́nh Tạo lập tịch nhiên Dứt bỏ sinh tử Vô số ức kiếp, Giáo pháp Phật giảng Rất khó được gặp Xét khắp thế gian Không thể sánh kịp. Ngày nay giác ngộ Hết tội, giải thoát Tu hành tinh tấn Phấn chấn vui mừng Chúng con quay về Đảnh lễ bậc Thánh Sở nguyện viên thành Như cát sông Hằng Thực phẩm, y phục Nhiều đến vô lượng Giường nằm, ngọa cụ Thuần khiết sạch sẽ Gỗ hương Chiên-đàn Lấy làm nhà cửa Đệm ngồi mềm mịn Để trải lên trên Nếu người tật bệnh Vô số thuốc thang Đem đến cúng dường An trụ độ tận Bố thí nhiều kiếp Những ǵ đă chứng Không bị mất đi Pháp Phật cao xa Vô lượng vô hạn Đủ thần túc lớn Kiến lập pháp lực Phật là Đại vương Kham nhận kiên cường Thường tu kiên cố An ủi khuyên dạy Luôn theo đúng thời Chưa từng buông bỏ Vọng tưởng phước hạnh Nơi tất cả đời Pháp Đấng Trung Tôn Đều có lực lớn, Như Lai tối thắng Thắp đèn sáng lớn Dạy rất nhiều người Biết hàng chúng sinh Tùy sức của họ Bao nhiêu chủng loại Điều họ ưa thích Trăm ngàn nhân duyên Tùy thuận mở bày, Như Lai đều biết Tánh hạnh chúng sinh Tâm niệm người khác Tất cả quần sinh V́ nhiều lỗi lầm Đưa đến đọa lạc Đem pháp thị hiện Đưa về tuệ giác.
***
Lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo Tôn giả Đại Ca-diếp và các vị trưởng lăo Thanh văn: - Hay thay, hay thay, Đại Ca-diếp! Ông đă ca ngợi như thật về Như Lai. Đúng như lời ông nói, công đức của Như Lai theo như thí dụ vừa rồi c̣n gấp bội hơn thế, vô lượng không thể nghĩ bàn, không thể đo lường bằng số kiếp giới hạn, tất cả mọi số tính toán đều không phù hợp với Như Lai. Trí tuệ của Như Lai vô cùng vô hạn, không ai có thể nghĩ hết những chỗ Như Lai đă trải qua và không thể t́m hết cội nguồn của nó. Như Lai thâm nhập hết tất cả các pháp nghĩa, quán sát biết tất cả tâm niệm của chúng sinh trong thế gian, thông suốt đến chỗ tận cùng, phân biệt tất cả. Như Lai làm cho mọi người hiểu rơ trí tuệ phương tiện, khuyến khích và an lập cho tất cả chúng sinh đến giải thoát và hiển bày trí tuệ rộng lớn khiến cho chúng sinh thâm nhập tuệ giác của Phật. Ca-diếp! Ví như trong cơi tam thiên đại thiên, nơi ấy có các cây cỏ thuốc, tre lau, rừng cây lớn nhỏ, gốc rễ, cành, nhánh, hoa, trái, bao nhiêu giống loại màu sắc khác nhau đều sinh ra trên đất hoặc trên núi cao, hoặc giữa ghềnh đá, g̣ nổng, suối, khe, hang… Khi ấy một trận mưa lớn nhuần thấm khắp các cỏ cây, vườn rừng, tùy theo giống loại của mỗi cây mà tất cả đều phát triển tươi tốt. Những ai không tin tưởng, kính ngưỡng Như Lai cũng đều được như thế. Nước mưa cùng một loại rơi khắp cơi Phật, tất cả đều được sinh trưởng trên đất ấy như nhau không khác. Đức Như Lai Chánh Giác giảng nói pháp sâu xa cũng như trận mưa lớn. Đấng Đại Thánh xuất hiện ở thế gian là v́ tất cả chư Thiên, Nhân dân, A-tu-luân, Quỷ, Thần, Rồng. Như Lai hiện ra oai thần rực rỡ tràn khắp cơi nước, ngay trong hiện tại trước chúng, xướng lên âm thanh lớn, dùng trí tuệ phân biệt giáo nghĩa, bằng tiếng oai hùng như sư tử mà tuyên bố lời này: - Ta là Đấng Như Lai sẽ làm cho chư Thiên, nhân dân trên trời hay khắp nhân gian, người chưa được độ sẽ được độ, người chưa giải thoát sẽ được giải thoát, người chưa an sẽ được an, người chưa chứng Niết-bàn sẽ làm cho chứng Niết-bàn. Đời hiện tại và các đời sau Như Lai đều biết đúng như thật. Như Lai dùng trí tuệ toàn giác có thể thấy khắp tất cả, độ người đáng độ, giải thoát người đáng giải thoát, làm cho an những người chưa an. Ai chưa được Niết-bàn, Như Lai làm cho được Niết-bàn, khiến cho tất cả đến đây nghe Như Lai thuyết pháp. Khi ấy hàng Trời, Người, A-tu-luân, Kiền-đạp-ḥa, Ca-lưu-la, Chân-đà-la, Ma-hưu-lặc... tất cả vân tập đến chỗ Đức Thế Tôn đang giảng pháp nghĩa. Phật là Đấng chánh dẫn đạo, phân biệt rơ ràng con đường tuệ giác. Đức Thế Tôn bảo Ca-diếp: - Bấy giờ có vô số ngàn muôn ức loại chúng sinh đều đến chỗ Như Lai nghe pháp. Như Lai thấy rơ tất cả căn cơ của họ nên dung sức đại tinh tấn mà thuyết pháp, dùng vô lượng lời lẽ phân biệt rơ ràng, dạy bảo khắp các chúng sinh, khiến cho họ không mất bản tâm, được an lành vui vẻ không có tai họa, hoặc được giải thoát ngay trong đời này, đời sau được sinh chỗ an lành tùy theo ư thích của họ, mỗi người đều được sinh một cách tự nhiên. Nếu có người quen tuân theo ái dục th́ Như Lai v́ họ thuyết kinh, hoặc khiến họ nghe nhận giáo pháp, xa ĺa các nghiệp tham, chuyển dần theo con đường trí tuệ Như Lai. Nhờ theo bản lực vô lượng như trên với tâm kiên cố nên họ thành tựu pháp thân b́nh đẳng. Giống như cơn mưa lớn, khắp cơi nước Phật đều được thấm nhuần nuôi dưỡng, sinh trưởng b́nh đẳng không sai khác. Đức Như Lai giảng nói pháp một vị cũng như vậy, đưa đến vị giải thoát, xa ĺa ái dục, đạt đến Niết-bàn, đi vào trí tuệ toàn giác. Hoặc có người nghe và thọ tŕ, đọc tụng, vâng giữ giáo pháp Như Lai mà họ lại không tự tỉnh thức, không quán niệm. V́ sao? Đó là do chủng loại và căn tánh khi xưa của những chúng sinh ấy. Theo chỗ nhớ nghĩ của họ, đă nghĩ, đang nghĩ có thể làm những việc ǵ; những việc đă làm, đang làm và sẽ làm. Theo các nhân duyên ấy mà sẽ đạt đến đâu và cần phải nói thế nào, chỉ có Như Lai mới thấy biết hết sự việc trên ở nơi nào và cơi nào. Như nước mưa b́nh đẳng nhuần thấm cỏ thuốc trong rừng; các loại cỏ thuốc màu trắng, đen, xanh, đỏ, cao, vừa, thấp. Đức Thế Tôn đối với các hạng chúng sinh đều hiện chỉ một vị, đưa họ vào vị giải thoát, cho đến Niết-bàn, độ những người chưa độ, đến Niết-bàn cứu cánh, làm cho họ đạt đến cùng một cơi, cùng một pháp vị, tâm không c̣n sợ hăi và được giải thoát. Như Lai giáo hóa làm cho chúng sinh được tin ưa. Ngài bảo bọc, nuôi dưỡng, che chở, khiến chúng sinh đạt đến trí tuệ thông suốt. Như Lai ca ngợi, phân tích rơ ràng, kiến lập giáo pháp của đấng Hiền thánh cũng như những điều vừa rồi Ca-diếp đă nói. Đức Thế Tôn muốn lập lại nghĩa trên nên nói kệ: Ta xuất hiện thế gian Làm vua pháp nhân ḥa V́ chúng sinh thuyết pháp Theo chỗ họ tin ưa Ư mạnh mẽ oai hùng Kiên tŕ phân biệt nói Nhiều chúng sinh thọ tŕ Chẳngy vội giảng cho họ Trí tuệ Phật khó hiểu Nếu người thiếu trí nghe Sẽ sinh ḷng hoài nghi Liền bỏ mất ḷng tin Tùy theo cảnh giới nói Theo sức chúng kham nhận Lại dạy các pháp lợi V́ chúng hiện chánh pháp Ví như vầng mây đen Nổi lên trên hư không Mưa khắp thế giới Phật Che phủ khắp đất đai Phóng chớp sáng chói ḷa Hơi nước tỏa xung quanh Tiếng sấm lớn vang rền Muôn loài đều hoan hỷ Nhật nguyệt bị che khuất Trừ nóng được mát mẻ V́ trời sắp đổ mưa Mây giăng khắp bầu trời Trận mưa đó khắp cùng Tuôn xuống nhiều vô lượng Mưa chan ḥa cơi Phật Khắp nơi đều ướt đẫm Đúng thời mưa tuôn tràn Đại địa đều nhuận thấm Suối khe đang khô cạn Tất cả được tràn đầy Nhờ trận mưa thấm nhuần Các nguồn đều tràn dâng Nơi đồng trống hang sâu Cây cối trong rừng vắng Nẩy mầm non xanh tốt Vô số cỏ thuốc sinh Tất cả các giống cây Lớn nhỏ đều tăng trưởng Cỏ thuốc mọc xanh tươi Cây cành nhiều hoa quả Tùy tánh loại của chúng Tất cả được thấm nhuần. Các cây đại thọ Rễ bám đất sâu Mọc nơi hiểm trở Và sống trong đó Như các tà đạo Tất cả ngu si Lớn thêm trói buộc Như voi bị xích Gai gốc, cỏ cây Lúa mạ, lau sậy Gốc thân, cành lá Và các hoa quả Cây trái sum suê Được nhiều lợi ích Đội ân mưa xuống Cỏ thuốc lớn dần Theo từng giống loại Do trận mưa đó Đều được thấm nhuẩn Đói khát no đủ Tùy theo giống trồng Mỗi loại mỗi khác Nhưng lúc mưa xuống Đều thuần một vị. Này Đại Ca-diếp! Phật cũng như vậy Hiện ra nơi đời Ví như trời mưa Rưới đều khắp cả V́ chúng thuyết pháp Đem hạnh chân thật Giáo hóa chúng sinh. Phật nói pháp ấy Khiến mọi người nghe Ở trước chư Thiên Nhân dân khắp chốn, Phật là Như Lai Đấng Lưỡng Túc Tôn Khéo dùng phương tiện Giống như trận mưa Ta làm no đủ Tất cả quần manh Những kẻ ngu si Thân h́nh khô gầy Trừ các khổ nạn Được an ổn lớn Thiêu hết ái dục Đạt đến Niết-bàn Chư Thiên, nhân loại Đều nghe ta nói Tất cả nên đến Chỗ Phật Đại Thánh Ta là Như Lai Bậc không ai sánh Điều ngự giáo hóa Nên hiện trong đời V́ tất cả người Phân biệt thuyết kinh Hóa độ muôn ngàn Chúng sinh vô số Phật lại diễn bày Bao nhiêu giáo nghĩa Thường hành b́nh đẳng Không có bỉ tử Đạt đến giải thoát Diệt độ Niết-bàn Hoặc trước cửa nhà Thuyết pháp kinh điển Đó là tạo lập Kho tàng đạo đức Dầu cao dầu thấp Đều dạy như nhau Không có ghét yêu Dứt trừ ái dục Ta chưa từng nói Những lời vô ích Chưa từng ghét ganh Các duyên phóng dật Dùng tất cả pháp Thuyết cho mọi loài Nếu như chúng sinh Nhiều không tính kể V́ giảng kinh lớn Không trái nhân duyên Đi chậm hay nhanh Hoặc đứng tại chỗ Hay là ngồi yên Vẫn luôn thiền định Ví như rồng chúa Mưa thấm nhuần nhiều Thấm ướt cùng khắp Tất cả thế gian Hiện khởi mây tuệ Tuôn xuống mưa pháp Xướng lên yi diệu Tùy bệnh cho thuốc Luôn v́ chúng sinh Thuyết pháp Thánh híền Khiến đều giữ giới Như trời che mát Những kẻ nói sai Các hạnh sai trái Muốn tiến gần pháp Điều phục dần dần Những kẻ hồ nghi Bỏ các tà kiến Khuyên dạy lợi ích Thấy chốn an lạc Bỏ chỗ hạ liệt Xa ĺa biếng nhác Tùy ư nguyện họ Mà khiến vào đạo Đúng thời chỉ dạy Khiến đều xả bỏ Tâm niệm sai quấy Thuận theo hạnh Phật Chư Thế Tôn dạy Rưới mưa pháp kinh Làm cho đạt đến Phật đạo tôn quư Tùy sức chúng sinh Khiếu được nghe nhận Bao nhiêu đạo tuệ Hóa lập pháp mầu Trời người theo đó Chí tánh an lạc Phạm vương, Đế Thích Chuyển luân thánh vương Cũng giống như đây Các thế giới nhỏ Các loại cỏ thuốc Mỗi loại khác nhau Nhỏ nhoi thấp ngắn Dược thảo như vậy Ca-diếp hăy nghe Ta sẽ nói hết, Dùng tuệ nhận biết Rơ pháp vô lậu Chứng được Niết-bàn Dạo chơi đến chốn Ba minh, sáu thông Cũng lại như vậy. Trận mưa định ư Cỏ thuốc Tam-mnội Hoặc có đi đến Ở chốn núi rừng Người này thành tựu Bậc Duyên giác thừa Ngườí đó tu thiền Sống hạnh thanh tịnh Đó mới gọi là Cỏ thuốc bậc trung. Nếu như chí nguyện Cầu đức Thượng sĩ Ta sẽ ớ đời Thành Đấng Đạo Sư Thường hành tinh tấn Thiền định nhất tâm Đó mới gọi là Cỏ thuốc bậc thượng. Giả sử có người Muốn tâm an trụ Cứu giúp Từ bi Sống nơi vắng lặng Chóng được thành đạo Làm Đấng Trung Tôn Gọi đó cây lớn. Là ví dụ này Có thể tuyên thuyế t Pháp không thoái chuyển Kiến lập thần túc Thực hành căn lực Trưởng dưỡng duyên này Thuốc thang trừ bệnh Hùng sự độ thoát Vô số ức người Tùy thời thị hiện Trong Phật đạo ấy Đó chính gọi là Rừng cây lớn nhất. Ta vốn tùy thuận Khéo dung phương tiện Tất cả chư Phật Cũng đều như thế Giảng pháp tối thắng Là pháp b́nh đẳng, Giống như mây lành Tuôn mưa khắp chốn Vô ngại thần thông Phật dùng dụ này Ví như cỏ thuốc Cùng mọc trên đất Để họ được thấy Nghĩa pháp vi diệu Như Lai đă lập Dùng phương tiện khéo Ví dụ phân tích Pháp sự toàn diện Cũng như trận mưa Tưới mọi cỏ thuốc. Phật dùng mưa pháp Rưới khắp thế gian Được nhiều an ổn Thành tựu khắp cả, Quán sát mỗi người Khả năng kham nhận Giáo pháp Phật dạy Đều cùng một vị. Ví như mưa rơi Núi, ghềnh, cây cỏ Và nơi khoảng giữa Không có khác nhau, Rưới ướt cây cối Khắp cả rừng già Mây dày bốn phía Đầy tất cả cơi. Giả sử thế gian Hành pháp từ mẫn Nên dùng kinh này Đầy khắp thiên hạ, Chỉ dạy cho đời Khiến đều an ổn Trời mưa cỏ thuốc Hoa trái sum suê, Các cỏ thuốc ấy Dần dần lớn lên Đó là La-hán Các lậu đă hết. Các hàng Duyên giác Ở nơi rừng rậm Pháp ta nói ra Không có trần cấu, Vô số Bồ-tát Trí tuệ thấu đạt Khắp cả ba cơi Tất cả thực hành, Ở trong chúng hội Diễn đạo lớn này Giống các cây kia Ngày thêm lớn tốt, Tiến tu Thần túc Chuyên đạt Tứ thiền Hoặc nghe Không tuệ Tâm liền giải thoát, Phóng hào quang sáng Vô số ức ngàn Đó là cây lớn Mà lại thắm tươi. Hoặc các Thanh văn Chưa đạt Niết-bàn Thế Tôn v́ họ Thuyết pháp cao tột, Hoặc đem phân biệt Thuyết giảng pháp này Giống như mây nổi Mưa xuống các cây, Dần dần thêm lớn Các cây cỏ thuốc Hoa của mọi người Nhiều không kể hết Giữa ngay lúc ấy Thuyết pháp nhân duyên Mà v́ mọi người Hiện nơi Phật đạo Tạm dùng phương tiện Thuyết giảng giáo pháp Tất cả Đạo sư Cũng lại như vậy. Thuyết giáo pháp này Là pháp bậc nhất Các chúng Thanh văn Đều phải phụng tŕ Thực hành duyên đây Sẽ được hạnh Phật Các La-hán này Như thế không khác Thế Tôn diễn nghĩa Cứu cánh nơi đây Giáo hóa Tiểu thừa Đều được Phật đạo. Đức Phật lại bảo Tôn giả Đại Ca-diếp: - Như Lai giáo hóa, chỉ dạy b́nh đẳng không thiên lệch. Ví như ánh sáng mặt trời chiếu khắp thiên hạ, ánh sáng ấy không chọn lựa chỗ nào nên chiếu và chỗ nào không nên chiếu, dù là cao, thấp, sâu, cạn, xấu, đẹp, thơm, hôi... đều chiếu soi như nhau không khác. Đức Phật cũng như thế, dùng ánh sáng trí tuệ chiếu soi tất cả chúng sinh trong năm đường sinh tử, Bồ-tát, Duyên giác, Thanh văn, trí tuệ ấy không tăng giảm, mỗi chúng sinh tùy theo sự giác ngộ của tâm ḿnh mà tự đạt đạo. Vốn không có ba thừa, do hạnh nguyện mà đưa đến như vậy. Tôn-giả Ca-diếp bạch Phật: - Nếu không có ba thừa, làm sao có được bậc Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát? Đức Phật dạy: - Ví như người thợ gốm dùng đất dẻo làm đồ vật đựng, hoặc đựng mật cam lồ, hoặc đựng bơ sữa, dầu mè, hoặc đựng rượu ăn uống… Đất bùn tánh chất nó như nhau nhưng khi làm đồ vật khác nhau th́ chỗ dùng cũng không giống nhau. Pháp giải thoát cũng như vậy, b́nh đẳng không sai khác. Tùy theo chỗ thực hành của mỗi người mà thượng, trung, hạ có khác nhau. Tôn-giả Ca-diếp lại thưa: - Bạch Thế Tôn! Giả sử khác nhau nhưng cứu cánh có giống nhau chăng? Đức Phật dạy: - Sẽ giống nhau nhưng chỉ có người giác ngộ mới hiểu rơ việc này. Ví như có người sinh ra đă bị mù, không thấy được năm sắc, mặt trời, mặt trăng và mười phương. Người ấy cho rằng thiên hạ không có mặt trời, mặt trăng, năm sắc, tám phương và phương trên, phương dưới. Có người giải thích, người ấy vẫn không tin. Giả sử có vị lương y xem thấy nguyên nhân căn bệnh của người ấy: “V́ sao người ấy không thấy? Là do khi xưa vị ấy đă tạo tội nên nay mắt mù tối không thấy được ánh sáng, thân thể bị bệnh nặng. Thế nào gọi là bệnh nặng? Đó là bốn chứng bệnh phong, hàn, nhiệt, tích.” Vị lương y thầm nghĩ: “Bệnh trạng của người này cho dù dung các dược liệu cũng không thể chữa khỏi. Trên Tuyết sơn có loại thuốc có thể trị được bốn bệnh ấy. Một là Hiển, hai là Lương, ba là Minh, bốn là An; đó là tên của bốn vị thuốc. Lúc ấy vị lương y v́ thương xót người bệnh, bày ra phương cách liền vào núi Tuyết hái bốn loại thuốc đem hợp lại rồi ngâm, giă, dùng để trị cho người mù mắt kia được sáng trở lại. Vị lương y lại châm cứu, tiêu tức, bổ tả, làm cho người mù sáng mắt, trong ngoài đều thấy rơ. Người ấy thấy ánh sáng mặt trời, mặt trăng, năm sắc, mười phương, khi ấy ông ta mới thật tin liền tự trách ḿnh: “Ta thật là mù ḷa, đă không thấy nghe mà tự cho rằng ḿnh đă thông đạ.- Nay mắt thấy được mới tự biết rằng trước đây đă bị sự ngu si che phủ, nay đă thấy được xa gần, cao thấp, ta không c̣n lầm lẫn.” Khi ấy có vị Tiên nhân sống nơi vắng vẻ, có năm phép thần thông, thấy nghe xuyên suốt khắp cả và thân có thể bay đi, tâm có thể biết ư nghĩ người khác, tự biết nguồn gốc sinh tử từ trước đến nay. Vị Tiên nhân bèn nói rơ cho người kia: - Ngươi chớ kiêu căng, tự cao cho rằng ḿnh đă thấu đạt. V́ người ở trong nhà đóng cửa, không ra ngoài nên không biết mọi sự bên ngoài được. Ngươi không biết người khác nghĩ tốt xấu về ḿnh, cũng không thể thấy xa được năm dặm mười dặm. Các tiếng nói hay tiếng trống đánh cách xa hai mươi dặm c̣n không thể nghe, trong gần mười hai dặm tự thân ngươi không thể đi bộ nổi, cũng không thể đạt được đến chỗ tự nhớ lại, thấy được lúc chưa sinh, c̣n ở trong thai, cũng không thể biết được. Ngươi thông đạt điều ǵ mà tự cho là thấy biết tất cả? Nay ta thấy ngươi thật là kẻ ở trong tối cho là sáng, ở trong sáng cho là tối. Người kia hỏi: - Phải làm cách nào để được Thánh trí ấy? Xin ngài rủ ḷng ban cho lời dạy bảo. Vị Tiên nhân đáp: - Ngươi phải vào núi sâu sống một ḿnh nơi thanh vắng, trừ hết các dục t́nh, lúc ấy mới đạt được. Người ấy tuân lời vị Tiên nhân dạy, bỏ nhà vào chốn núi non, nhất tâm chuyên ṛng không đắm say dục lạc, chứng được thần thông tự giác ngộ, quán sát những điều đă thấy không thể dung ngôn từ để gọi được. Khi đă được năm phép thần thông, không có chỗ ngăn ngại mới tự biết sở kiến xưa kia của ḿnh bị tối tăm che phủ. Đức Phật dạy: - Ta sẽ giải rơ ví dụ này. Con người sống trong năm đường ấm, cái sinh tử, chẳng rơ bản vô th́ gọi là si, từ si đưa đến hành, từ hành đưa đến thức, từ thức đưa đến danh sắc, từ danh sắc đưa đến lục nhập, từ lục nhập đưa đến xúc, từ xúc đưa đến thọ, từ thọ đưa đến ái, từ ái đưa đến thủ, từ thủ đưa đến hữu, từ hữu đưa đến sinh, từ sinh đưa đến lăo, bệnh, tử, ưu năo khổ hoạn. Các tội tích tụ cho nên gọi là mù tối. Chính v́ thương xót những người này bị trôi lăn trong ba cơi không dừng nghỉ không thể tự cứu vớt, nên Thế Tôn quán sát nguồn tâm của chúng sinh thấy có người bệnh nặng có kẻ bệnh nhẹ; có người nhiều trần cấu, có kẻ ít trần cấu; có người dễ giải thoát, có kẻ khó giải thoát; có người thấy xa, có kẻ thấy gần, phát tâm Bồ-tát đến không thoái chuyển, không c̣n sinh tử, đạt đến Phật quả, giống như người có mắt được làm Thần tiên. Vị lương y đó chính là Như Lai vậy. Người không phát đại Bồ-đề tâm gọi là sống mù. Tham, dâm, sân hận, ngu si, sáu mươi hai tà kiến gọi là bốn bệnh. Không, Vô tướng, Vô nguyện, hướng đến cửa Niết-bàn gọi là bốn thứ thuốc. Thuốc làm cho khỏi bệnh th́ không có si, hành, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sinh, lăo, bệnh, tử, ưu năo khổ hoạn, tất cả đều được đoạn trừ. Chí không trụ thiện, cũng không trụ ác, như người mù hai mắt được sáng trở lại gọi là Thanh văn, Duyên giấc đă đoạn sinh tử, vượt khỏi ba cơi, thoát khỏi năm đường, tự biết rơ đă thông đạt, không bị nhầm lẫn. Lúc muốn diệt độ, có Phật thị hiện ra trước, đem chánh pháp giảng dạy khiến họ phát tâm Bồ-tát, không ở nơi sinh tử, chẳng trụ Níết-bàn, hiểu rơ nghĩa không trong ba cơi; tất cả các pháp hiện hữu trong mười phương như huyễn như hóa, như giấc mộng, như ngựa hoang, như tiếng vang trong núi thẳm; tất cả đều không sở hữu, không có ǵ hy vọng, không thủ không xả, không tối, không sáng. Khi ấy họ mới thấy sâu xa, không có ǵ là không thông đạt, thấy được các pháp chưa từng thấy, hiểu biết rơ nguồn gốc sinh khởi của tất cả của chúng sinh. Khi ấy Đức Thế Tôn nói lại nghĩa trên: Ví như ánh mặt trời Tỏa chiếu khắp muôn nơi Ánh sáng không tăng giảm Cũng không chọn tốt xấu. Như Lai cũng như vậy Trí tuệ như trời, trăng Hóa cùng mười phương cơi Cũng không có giảm tăng. Như người thợ gốm kia Nhào nặn đất làm đồ Hoặc đựng mật cam lộ Hoặc đựng dầu ăn, sữa Vốn từ một chất đất Thành vật dụng khác nhau Nhưng chỗ dùng không khác V́ chỗ đựng đặt tên. Người vốn cũng như vậy Không ba cơi năm đường Theo hành nghiệp đọa sinh Luân hồi không tự biết. Rơ “Không” gọi Bồ-tát, Bậc trung là Duyên giác Chấp không, tuệ chưa giải Th́ gọi là Thanh văn. Ví như người mù mắt Không thấy ánh trời trăng Năm sắc và mười phương Cho rằng đời không có Lương y xét nguyên nhân Thấy bốn bệnh che lấp Tự mẫn thương xót họ Vào núi t́m thuốc thang Hái thuốc hay diệu kỳ Tên hiển, lương, minh, an Ngâm, giă, ḥa hợp lại Để trị cho người mù Gia giảm thêm châm cứu Bệnh khỏi, mắt thấy sáng Thấy trời, trăng, năm sắc Mới biết ḿnh tối ngu Người không rơ tánh không Đọa măi đường sinh tử Mười hai duyên buộc ràng Không rơ nguyên nhân bệnh Thế Tôn hiện ra đời Quán sát gốc ba cơi Tùy nhân sinh ra bệnh Mà khai hóa tất cả Rơ “Không” là Bồ-tát Ư thấp là Duyên giác Chán sợ khổ sinh tử Nên rơi vào Thanh văn Tự cho đạo đức cao Không thể tự hiểu rơ Người thấy được cứu cánh Không có lo chướng ngại Giống như vị Tiên nhân Có đủ năm thần thông Thương xót bảo người kia Ngươi chấp chặt ngăn che Không hiểu rộng sâu xa Nơi tối cho là sáng Ở trong không thấy ngoài Tuy sáng cũng là tối Vài mươi dặm có tiếng Tai không thể nghe được Hoặc người muốn ách hại Không biết ư họ nghĩ Muốn đến ngoài vài dặm Phải đi bộ mới đến Hoặc khi sinh lớn lên Không biết việc trong thai Rơ năm việc trong ngoài Lúc ấy mới thông đạt Sao lại sanh kiêu ngạo Tự cho ḿnh hơn hết Người muốn được ngũ thông Phai ở nơi thanh vắng Chuyên tinh nghĩ nhớ đạo Khi liễu ngộ pháp này Phụng tŕ lời Phật dạy Bỏ nhà vào núi sâu Nhất tâm không nghĩ xấu Liền đạt đến Thần tiên Nếu đạt đến Thanh văn Và được Duyên giác thừa Tự cho tuệ đầy đủ Bằng Niết-bàn chư Phật Khi sắp muốn diệt độ Phật liền đứng phía trước V́ hiện pháp Bồ-tát Tam đạt vô quái ngại Tuệ giác đến vô cùng Khéo tạm dùng phương tiện Đạt Không, Vô tướng nguyện Bồ-tát do đó sinh Bốn Đẳng tâm, bốn ân Đem khai hóa chúng sinh Rơ tất cả như hóa Như mộng, huyễn, sóng nắng Như tiếng vang, thân chuối Ba cơi không sở hữu Không giữ cũng không bỏ Không tối cũng không sáng Không sinh tử Niết-bàn B́nh đẳng như hư không Thấy cũng chẳng phải thấy Mới thấy được tất cả Cái nh́n ngay lúc ấy Không phân biệt Tam thừa Tất cả đều b́nh đẳng Cứu giúp không hạn lượng.
Phẩm 6: THỌ KƯ CHO HÀNG THANH VĂN
Lúc bấy giờ, khi nói kệ xong, Đức Thế Tôn bảo tất cả các vị Tỳ-kheo: - Ta nay nói rơ, các vị Thanh văn kia cũng như Đại Ca-diếp đă từng cúng dường ba ngàn ức Đức Phật, nay sẽ phải cúng dường số lượng chư Phật như trước đây, tôn kính phụng thờ chư Phật Thế Tôn, nhận lănh chánh pháp, vâng giữ tu tập. Sau khi cúng dường chư Phật ấy xong sẽ được thành Phật, cơi ấy tên là Hoàn minh, kiếp ấy tên là Hoằng đại. Đức Phật khi đó hiệu là Đại Quang Minh Như Lai Chí Chân Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Thành, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Đạo Pháp Ngự, Thiên Nhân Sư, Phật Chúng Hựu, trụ thế mười hai trung kiếp. Sau khi Phật diệt độ, chánh pháp trụ ở đời hai mươi kiếp, tượng pháp cũng trụ đời hai mươi kiếp. Cơi nước của Phật ấy rất thanh tịnh, không có gạch ngói, gai góc, các thứ ô uế, núi non, hầm hố, vô cùng tịnh lạc, đất bằng lưu ly, cây bằng các thứ báu, dây bằng vàng ṛng giăng mắc trên các hàng cây, có tám con đường giao nhau. Các cội cây báu thường trổ hoa báu, luôn sum suê tươi đẹp. Có vô số trăm ngàn muôn ức các vị Bồ-tát trong cơi ấy, số Thanh văn cũng thật vô lượng. Cơi ấy không có các việc ác và quan thuộc, các loài quỷ đều luôn tinh tấn theo hộ tŕ Phật pháp không hề trái phạm. Lúc ấy Thế Tôn muốn lập lại nghĩa trên liền nói kệ: Ta thấy Tỳ-kheo Bằng Tuệ nhăn Phật Ca-diếp hiện nay Sẽ được thành Phật. Ở đời vị lai Vô số ức kiếp Cúng dường chư Phật Bậc Thánh Trung Tôn Viên măn đầy đủ Ba ngàn ức Phật Ma-ha Ca-diếp Các lậu đă tận, Tu tập trọn vẹn Công hạnh ba phẩm Sẽ được thành Phật. Ông thân cận pháp Cúng dường chư Phật Tôn sư trời, người Tích lũy hạnh lành Sẽ thành Phật quả Tối tôn, tối thượng Bậc không sánh kịp Là Đại Đạo Sư Là bậc Đại Thánh. Cơi nước Phật kia Bậc nhất tối thắng Thanh tịnh ly cấu Bao nhiêu điềm lành Tùy theo mong cầu Đều được toại nguyện Đất màu vàng tía Vật báu trang nghiêm Lại có các cây Đều bằng trân bảo Đường xá trang nghiêm Thẳng phân tám nẻo Trời, người tán hương Khắp nơi thơm ngát Cơi nước khi ấy Sẽ được như vậy Bao nhiêu loại hoa Giăng mắc trang hoàng Tất cả loài hoa Sắc màu vàng tía Tỏa sáng ngân thanh Dùng làm pháp tắc Thường luôn vi diệu Chưa ai từng thấy. Các chúng Bồ-tát Vô số ngàn muôn Tâm chí an định Có sức đại thần, Các chúng Thánh trí Theo kinh Đại thừa Số không thể tính Muôn ức trăm ngàn, Tuyệt không các lậu Bền chí vâng giữ Có chúng Thanh văn Pháp Phật tối thắng Nếu dùng Thiên nhăn Muốn tính suy lường Số chúng đệ tử Quyết không thể được. Phật ấy trụ đời Mười hai trung kiếp Chánh pháp sẽ trụ Hai mươi trung kiếp; Tượng pháp cũng trụ Số kiếp như trên Phật Đại Quang Minh Công đức như thế. Lúc ấy các vị Hiền giả Đại Mục-kiền-liên, Tu-bồ-đề, Ma-ha Ca-chiên-diên… đồng ḷng đứng lên cúi đầu chiêm ngưỡng dung nhan rực rỡ của Đức Phật, mắt không lay động, thành kính lễ sát chân Đức Phật. Tất cả đều đọc kệ tán thán: Bậc Đại Hùng vô nhiễm Đấng Thích Vương đại Từ Đă xót thương chúng con Tuyên nói khen hạnh Phật. Phật nay biết chúng con Xin thương truyền thọ kư Được gặp pháp cam lộ Tắm gội trong pháp âm; Ví như kẻ đói khát Được thức ăn thượng vị Nghèo túng đang van cầu Bỗng có người cho ăn. Chúng con đều hoan hỷ. Chúng con chí thấp hèn Trái thời bỏ mọi người Nên không được thọ kư, Không tin trí Đẳng giác Nên Phật không truyền trao Nay chúng con ở đây Đều không c̣n đói khát, Thấy Thế Tôn khuyến phát Được nghe pháp chí tôn Chỉ mong được thọ kư Th́ mới được đại an. Nguyện Thế Tôn giải nghi Lân mẫn đại Từ bi Thương hạnh tâm kém hèn Pháp cam lộ dạy chúng. Khi ấy Đức Thế Tôn biết tâm niệm của các vị Thanh văn Trưởng lăo, liền bảo chúng Tỳ-kheo: - Các Tỳ-kheo nên biết! Vị đại Thanh văn Trưởng lăo Tu-bồ-đề này sẽ theo hầu cận, cúng dường tám ngàn ba mươi ức trăm ngàn muôn Đức Phật, ở chỗ chư Phật tu tập phạm hạnh, tích lũy đầy đủ trọn vẹn công đức, sau đó trong tương lai sẽ được thành Phật, được xưng tụng hiệu là Như Lai Chí Chân Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Thành, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Đạo Pháp Ngự, Thiên Nhân Sư, Phật, Chúng Hựu. Kiếp ấy tên là Bảo âm. Khắp nơi trong cơi nước của Đức Phật ấy đều có các loại cây báu tự trang nghiêm, không có cát sỏi, gạch đá, núi hầm, hang hố. Các hàng cây đều phát ra âm thanh từ bi, ḥa nhă. Nhân dân trong nước ấy giàu có vô lượng, nhà cửa, pḥng xá, lầu gác nhiều vô số. Số chúng Thanh văn cũng nhiều vô lượng không thể tính đếm cho hết được và đều là bậc đă chứng được Túc mạng thông. Bồ-tát trong nước ấy cũng đông trăm ngàn muôn ức, vô lượng không thể tính đếm. Đức Phật ấy sẽ trụ đời mười hai trung kiếp. Sau khi Đức Phật diệt độ, chánh pháp sẽ trụ đời hai mươi trung kiếp, tượng pháp cũng trụ hai mươi trung kiếp. Đức Phật sẽ an tọa trên hư không v́ tất cả chúng sinh giảng nói kinh pháp, khai hóa cho vô số trăm ngàn Bồ-tát. Khi đó Đức Thế Tôn nói kệ: Nay ta nói rơ Các vị Tỳ-kheo Đều nên lắng nghe Lời Phật tuyên dạy. Ông Tu-bồ-đề Là đệ tử ta Ở trong tương lai Sẽ được thành Phật, Gặp chư Thế Tôn Tâm ư chí thành Đầy đủ ba mươi Muôn ngàn Đức Phật, Sẽ ở thế gian Huân tu đạo hạnh Chí luôn mong cầu Tuệ giác Như Lai. Ở thời vị lai Công hạnh viên măn Nhan sắc diệu kỳ Ba mươi hai tướng Rực rỡ tươi đẹp Sắc thân vàng tía Kiếp ấy trong lành Tâm luôn Từ mẫn, Cơi nước an vui Hiện lên điềm lành Muôn dân trông thấy Khả ư vui mừng Đều cùng nhau đi Đến chỗ Đức Phật Chúng sinh được độ Vô lượng vô số, Các chúng Bồ-tát Không thể tính kể Tâm đều giải thoát Không c̣n thoái chuyển. Nghe pháp tối diệu Các căn thông lợi Đều sẽ thuận kính. Cơi nước Phật ấy Số chúng Thanh văn Thật đông vô lượng Muốn biết hạn số Tuyệt không thể được Lục thông, tam đạt Có đại thần túc Giải thoát vô ngại Đă được an ổn Sức thần thông đó Không thể nghĩ bà n Nếu Phật giảng bày Pháp bảo chư Phật Trời, người đông đảo Như cát rạch sông Sẽ luôn chắp tay Tư quy y Phật. Phật ấy trụ đời Mười hai trung kiếp Chánh pháp sẽ trụ Hai mươi trung kiếp, Tượng pháp trụ thế Số cũng như trên Đấng Đại Hùng Sư Việc đó như vậy. Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn lại bảo các vị Tỳ-kheo: - Các Tỳ-kheo muốn biết chắc thật việc trong tương lai th́ cần phải tin tưởng vào trí phân biệt b́nh đẳng của Như Lai. Đại Ca-chiên-diên, vị đệ tử Thanh văn này của ta, trong tương lai sẽ theo hầu hạ, cúng dường tám ngàn ức Đức Phật. Sau khi mỗi Đức Phật diệt độ sẽ xây dựng tháp cao bốn vạn thước, mỗi tháp dài rộng hai vạn thước, đều dùng các thứ báu vật như vàng bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, mă năo, san hô, ngọc bích để tạo nên, dùng các thứ hương hoa, tạp hương, bột hương, gấm lụa, cờ lọng để cúng dường. Sau khi ông đă cúng dường xong lại phải cúng dường hai mươi ức Đức Phật rồi sẽ thành Phật, có hiệu là Tử Ma Kim Sắc, Như Lai Đẳng Chánh giác, Ḿnh Hạnh Thành, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Đạo Pháp Ngự, Thiên Nhân Sư, Phật Chúng Hựu. Cơi nước trang nghiêm, thanh tịnh, bằng phẳng, không có các điều xấu ác, danh tiếng đồn khắp, dùng lưu ly làm đất. Vô số các loại cây có các thứ báu vật như dây báu, gấm lụa màu vàng óng giăng mắc để trang hoàng. Hoa của các cây ấy luôn nở sum suê, tươi tốt đầy khắp nơi. Cơi Phật ấy không có địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh mà chỉ có chư Thiên và loài người số đông vô lượng, lại có vô số trăm ngàn muôn ức Thanh văn và Bồ-tát để trang nghiêm cơi Phật. Đức Phật ấy sẽ trụ ở đời mười tiểu kiếp. Sau khi Phật diệt độ, chánh pháp sẽ trụ hai mươi trung kiếp, tượng pháp cũng trụ hai mươi trung kiếp. Khi đó Đức Thế Tôn liền nói kệ: Các vi Tỳ-kheo Đều nên lắng nghe Thanh âm Phật ấy Nhu nhuyễn tốt lành. Ông Ca-chiên-diên Đệ tử của ta Sẽ cúng dường Phật Vô số Đạo Sư Tôn kính phụng thờ Kính thành vô lượng Trong vô số kiếp Không thể tính đếm. Chư Phật diệt độ Xây dựng tháp thờ Dùng hương và hoa Cúng dường tháp Phật Sau đó tương lai Sẽ được thành Phật Cơi nước trong lành Không có dơ uế Giáo hóa giảng dạy Vô số chúng sinh Mở bày hướng đạo Cho khắp mọi người Cơi ấy trang nghiêm Mười phương tỏa sáng Ông sẽ thành Phật Dùng dụ giảng bày Hiệu Tử Kim Sắc Uy đức sáng ngời Độ thoát chúng sinh Trăm ngàn muôn ức Vô số Bồ-tát Và chúng Thanh văn Đầy khắp cơi Phật Số đông vô kể Thường tu tinh tấn Trong pháp của Phật Đoạn trừ các ác Díệt tận họa tai. Bấy giờ Đức Thế Tôn lại bảo với bốn bộ chúng trong hội: - Nay Thế Tôn tuyên nói ông Đại Mục-kiền-liên, vị đệ tử Thanh văn của ta, sẽ phụng thờ, cúng dường tám ngàn Đức Phật, theo hầu vô số các Đức Thế Tôn. Sau khi chư Phật diệt độ, ông sẽ xây dựng tháp thờ xá-lợi, dùng bảy món báu như vàng bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, mă năo, san hô, ngọc quư tạo thành. Các tháp ấy cao bốn vạn thước, dài rộng hai vạn thước. Ông lại dùng vô số các vật báu tốt đẹp, các loại hương hoa, tạp hương, bột hương, gấm lụa, cờ phướng lọng và tấu nhạc để cúng dường tháp Phật. Sau khi cúng dường các tháp ấy xong, ông lại phải kính thờ, theo hầu cận, cúng dường hai trăm vạn ức Đức Phật. Vào đời sau cùng, ông sẽ được thành Phật, có hiệu là Kim Hoa Chiên-đàn Hương Như Lai Chí Chân Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Thành, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Đạo Pháp Ngự, Thiên Nhân Sư, Phật Chúng Hựu. Nước ấy tên là Ư lạc, kiếp ấy tên là Lạc măn. Thế giới của Đức Phật ấy tươi đẹp, an ổn, thanh tịnh, trong sạch. Mặt đất toàn bằng ngọc lưu ly rực sáng, cây cối hoa quả đều bằng bảy báu hợp thành. Khắp nơi đều có các loại hoa bằng ngọc quư kết thành rất trang nghiêm. Cơi nước ấy bằng phẳng, tốt đẹp, đầy đủ các thứ quư báu. Đức Phật sẽ lặng im an tọa, trú trong định Vô lượng nghĩa và v́ tất cả Bồ-tát rộng giảng kinh pháp. Đức Phật ấy sẽ trụ đời hai mươi trung kiếp. Sau khi Phật diệt độ, chánh pháp sẽ trụ thế bốn mươi trung kiếp, thời kỳ tượng pháp cũng như vậy. Khi ấy Đức Thế Tôn nói kệ: Đại Mục-kiền-liên Đệ tử của ta Xả bỏ thân người Cũng được tự tại, Hai mươi vạn ức Số kiếp như vậy Đều sẽ cúng dường Chư Phật, giáo pháp Ở chỗ các Phật Tu tập hạnh lành Chí luôn mong cầu Đạo của chư Phật Theo hầu tôn kính Chư Phật Thế Tôn Phụng sự đầy đủ Các Bậc Đạo Sư Và sẽ vâng giữ Truyền bá Thánh giáo Trong bao nhiêu kiếp Số ức trăm ngàn Kính cẩn tuân hành Không hề trái phạm. Chư Phật Thế Tôn Sau khi diệt độ Ông dùng bảy báu Xây tháp thờ Phật V́ chư Như Lai Kiến tạo, tu sửa Dùng gỗ Chiên-đàn Để làm kèo cột Tán hương, tấu nhạc Mà cúng dường tháp. Ở đời cuối cùng Việc làm đă xong Ngôn thuyết an lành Được người kính ngưỡng Thương yêu chúng sinh Việc làm như thế Sẽ được thành Phật Hiệu Kim Chiên-đàn Phật ấy sẽ thọ Hai mươi trung kiếp Số kiếp an trụ Đức hạnh như thế Sẽ giảng pháp kinh Cho chư Bồ-tát Ở số kiếp ấy Phân biệt thật nghĩa Hàng Thanh văn lớn Muôn ức trăm ngàn Số đông vô lượng Như cát rạch sông Tam đạt, lục thông Có đại thần túc An trụ ở đời Mà được sức diệu Vô số Bồ-tát Đều không thoái chuyển Dũng mănh tin cần Có chí, trí tuệ Tu hành như trên Theo lời Phật dạy Số ấy vô lượng Không thể nghĩ bàn. Phật diệt độ rồi Đệ tử vô số Chánh pháp sẽ trụ Truyền khắp mười phương Hai thời chánh, tượng Bốn mươi trung kiếp Chánh pháp chưa hết Tượng pháp đă khai Hàng chúng Thanh văn Có thần thông lớn Phật đều khuyến lập Nương theo Đại thừa Không trái pháp chân Ở trong vị lai Thàn Phật tự tại.
Minh-Quang posted December 18, 2009
|
|
|