Chùa Hải-Đức in Jacksonville
|
|
Tuyết Đậu tụng cổ Bích Nham Lục Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, tập 48 Thích Thanh Từ dịch Việt
TẮC 56: KHÂM SƠN MỘT MŨI PHÁ CỔNG
LỜI DẪN: Chư Phật chẳng từng ra đời, cũng không một pháp cho người. Tổ sư chẳng từng Tây sang, chưa bao giờ lấy tâm truyền trao. Chính v́ thời nhân chẳng liễu, hướng ngoài t́m cầu, trọn chẳng biết dưới gót chân chính ḿnh có một đoạn đại sự nhân duyên, ngàn thánh ḍ t́m cũng chẳng được. Chỉ là hiện nay thấy chẳng thấy, nghe chẳng nghe, nói chẳng nói, biết chẳng biết, từ chỗ nào được? Nếu chưa hay thấu triệt, hăy nhằm trong hang sắn b́m hội lấy, thử cử xem? CÔNG ÁN: Thiền khách Lương Toại hỏi Khâm Sơn: Khi một mũi tên phá ba cổng th́ thế nào? Khâm Sơn bảo: Dẫn ông chủ trong ba cổng ra xem? Lương nói: Thế ấy th́ biết lỗi ắt cải. Khâm Sơn bảo: Lại đợi khi nào? Lương nói: Tên tốt bắn chẳng đến đích, liền ra đi. Khâm Sơn gọi: Xà-lê lại đây! Lương xoay đầu. Khâm Sơn nắm đứng nói: Một mũi phá ba cổng hăy gác lại, thử v́ Khâm Sơn bắn tên xem? Lương suy nghĩ, Khâm Sơn đánh bảy gậy, nói: Hăy cho gă này nghi ba mươi năm. GIẢI THÍCH: Thiền khách Lương Toại cũng thật là một viên chiến tướng, nhằm trong tay Khâm Sơn xoay trái lộn phải, khiến rơi roi rớt dây, rốt sau đáng tiếc cung găy tên mất. Tuy nhiên như thế, tướng quân họ Lư tự có tiếng khen, chẳng được phong hầu cũng là nhàn. Công án này một ra một vào, một bắt một thả, đương cơ thấy mặt đề, thấy mặt đương cơ nhanh, trọn chẳng rơi nơi có không được mất, gọi là huyền cơ, nh́n qua thấy có chút ít lực lượng, liền có chỗ sẩy chân. Vị Tăng này cũng là hàng Thiền tăng anh linh, đặt câu hỏi quả là kinh quần. Khâm Sơn là bậc Tông sư tác gia, liền biết chỗ rơi của câu hỏi. Câu hỏi “khi một mũi tên thấu ba cổng th́ thế nào”, ư Khâm Sơn trả lời, ông bắn được hăy gác qua, thử dẫn ông chủ trong ba cổng ra xem? Lương nói “thế ấy th́ biết lỗi ắt cải”, quả thật kỳ đặc. Khâm Sơn bảo: “Lại đợi khi nào?” Xem kia đối đáp thế ấy, chỗ hỏi của Khâm Sơn không có chút ít thiếu trống. Sau Thiền khách Lương lại nói: “tên tốt bắn chẳng đến đích”, phủi áo ra đi. Khâm Sơn vừa thấy y nói thế ấy, liền gọi: Xà-lê lại đây ! Thiền khách Lương quả nhiên nắm chẳng đứng, xoay đầu lại. Khâm Sơn nắm đứng nói: “Một mũi thấu ba cổng gác lại, hăy v́ Khâm Sơn bắn tên xem?” Lương suy nghĩ, Khâm Sơn đánh bảy gậy, theo sau cho y một câu chú “hăy cho gă này nghi ba mươi năm”. Hiện nay một số thiền ḥa tử trọn bảo: V́ sao chẳng đánh tám gậy hay sáu gậy, chỉ đánh bảy gậy? Kia bảo thử v́ Khâm Sơn bắn tên xem, liền đánh. Thế là giống th́ cũng giống, phải th́ chưa phải. Công án này phải trong hông ngực chẳng chứa tí xíu đạo lư so sánh, vượt ngoài ngôn ngữ, mới có một câu phá ba cổng và có chỗ bắn tên. Nếu c̣n phải và quấy th́ ḍ t́m chẳng được. Vị Tăng khi ấy, nếu là hảo hán Khâm Sơn cũng bị nguy hiểm, đă không thể hành lệnh này, chẳng khỏi đảo hành. Hăy nói ông chủ trong cổng cứu kính là người nào? Xem Tuyết Đậu tụng ra:
TỤNG: Dữ quân
phóng xuất quan trung chủ
DỊCH: Chủ nhân
trong cổng v́ anh dẫn GIẢI TỤNG: Bài tụng này có mấy câu rút trong bài tụng Qui Tông. Ngày xưa Qui Tông nhân làm bài tụng nên lấy hiệu là Qui Tông. Trong tông môn gọi đó là nói lên tông chỉ. Sau này Đồng An nghe chuyện bảo: Lương Công khéo bắn tên mà không hay trúng đích. Có vị Tăng hỏi: Thế nào được trúng đích? Đồng An bảo: Chủ trong cổng là người nào? Sau có vị Tăng thuật lại cho Khâm Sơn, Khâm Sơn nói: Lương Công thế ấy vẫn chưa khỏi được cái miệng Khâm Sơn. Tuy nhiên như thế, Đồng An chẳng phải hảo tâm. Tuyết Đậu nói “chủ nhân trong cổng v́ anh dẫn”. Mở mắt cũng đúng, nhắm mắt cũng đúng có h́nh không h́nh thảy đều chặt làm ba khúc. Câu “những kẻ bắn tên chớ sơ hở”, nếu bắn tên giỏi th́ chẳng sơ hở, nếu bắn tên dở th́ bắn là sơ hở. Hai câu “giữ con mắt chừ tai điếc rồi, bỏ lỗ tai chừ hai mắt tối”, hăy nói giữ con mắt v́ sao lỗ tai điếc? Bỏ lỗ tai v́ sao hai mắt tối? Lời này phải không giữ bỏ mới hay thấu được, nếu có giữ bỏ th́ khó thấy. Hai câu “đáng thương một mũi phá tam quan, quả thật đường sau tên quá rơ”: Khi Thiền khách Lương hỏi thế nào một mũi phá ba cổng, Khâm Sơn bảo dẫn ông chủ trong cổng ra xem, cho đến rốt sau công án của Đồng An thảy là đường sau của tên. Cứu kính phải thế nào? “Anh chẳng thấy, Huyền Sa có lời chừ, đại trượng phu tiên thiên là tâm Tổ.” B́nh thường cho tâm là cực tắc Tổ tông. Trong đây tại sao trước khi trời đất chưa sanh vẫn cho là Tổ của tâm này? Nếu biết rơ cái thời tiết này mới rơ được ông chủ trong cổng. Quả thậtơ đường sau tên quá rơ, nếu cần trúng đích sau mũi tên rơ ràng có đường. Hăy nói thế nào là đường sau mũi tên? Phải tự đem hết tinh thái mới được. Câu “đại trượng phu tiên thiên là tâm Tổ”, Huyền Sa thường lấy câu này dạy chúng, đây là trong tụng Qui Tông. Tuyết Đậu lầm dùng cho là lời của Huyền Sa. Hiện nay người tham học cho tâm này là Tổ tông, dù tham đến đức Phật Di-lặc ra đời cũng chưa hội. Nếu là kẻ đại trượng phu, tâm vẫn là con cháu. Trời đất chưa phân đă là đầu thứ hai. Hăy nói chính khi ấy, làm sao là trước trời đất?
?
TẮC 57: TRIỆU CHÂU KẺ TỚ RUỘNG NHÀ
LỜI DẪN: Trước khi chưa thấu được, như núi bạc vách sắt, đến khi thấu được, chính ḿnh xưa nay là vách sắt núi bạc. Hoặc có người hỏi: Phải làm sao? Chỉ nói với y: Nếu nhằm trong ấy bày được một cơ thấy được một cảnh, ngồi đoạn yếu tân, chẳng thông phàm Thánh, chưa là việc phần ngoại. Nếu chưa được như thế, xem lấy bóng dáng cổ nhân. CÔNG ÁN: Tăng hỏi Triệu Châu: “Chí đạo không khó, chỉ hiềm giản trạch”, thế nào là chẳng giản trạch? Triệu Châu đáp: Trên trời dưới trời, chỉ ta hơn hết. Tăng thưa: Đây vẫn là giản trạch. Triệu Châu bảo: Kẻ tớ ruộng nhà, chỗ nào là giản trạch? Tăng không đáp được. GIẢI THÍCH: Tăng hỏi Triệu Châu chí đạo không khó chỉ hiềm giản trạch, trong bài Tín Tâm Minh của Tam Tổ mở đầu là hai câu này. Có nhiều người hiểu lầm. V́ sao? Chí đạo vốn không khó cũng không chẳng khó, chỉ là chỉ hiềm giản trạch. Nếu hiểu thế ấy một muôn năm cũng chưa mộng thấy. Triệu Châu thường lấy câu này hỏi người. Vị Tăng đem câu này hỏi lại Triệu Châu. Nếu nhằm trên ngôn cú t́m th́ vị Tăng này là kinh thiên động địa. Nếu chẳng ở trên ngôn cú lại làm sao? - Lại tham ba mươi năm, cây chốt cửa này phải xoay được mới mong mở ra. Nhổ râu cọp phải là có thủ đoạn bổn phận mới được. Vị Tăng này chẳng ngại nguy vong, dám nhổ râu cọp, nói rằng: “Vẫn c̣n giản trạch.” Triệu Châu nhằm miệng liền bít, nói: “Kẻ tớ ruộng nhà, chỗ nào là giản trạch?” Nếu hỏi đến kẻ khác liền thấy tay chân rối loạn, đâu ngờ lăo này là bậc tác gia, nhằm chỗ động không được liền động, chỗ xoay không được liền xoay. Nếu ông thấu được, tất cả ngôn cú ác độc, nhẫn đến ngàn sai muôn trạng hí luận ở thế gian, đều là thượng vị đề-hồ. Nếu đến được chỗ thật, mới thấy Triệu Châu ḷng son từng mảnh. Kẻ tớ ruộng nhà là tiếng người làng Phước Đường mắng người giống như không ư trí. Vị Tăng này nói “vẫn c̣n giản trạch”. Triệu Châu bảo: “Kẻ tớ ruộng nhà, chỗ nào là giản trạch?” Cặp mắt Tông sư phải đến thế ấy, như chim cánh vàng vạch biển bắt rồng nuốt. Tuyết Đậu tụng ra:
TỤNG:
Tợ hải chi thâm
DỊCH:
Giống như biển sâu GIẢI TỤNG: Tuyết Đậu chú hai câu “giống như biển sâu, dường thể núi cứng”. Tăng nói vẫn là giản trạch. Tuyết Đậu nói vị Tăng này giống như “muỗi nhặng ở trong gió mạnh đùa, cào kiến lay cây cọc sắt”. Tuyết Đậu khen ông ấy lớn mật. V́ sao? Đây là người trên dùng mà y dám nói thế ấy. Triệu Châu cũng không tha y, nói: “Kẻ tớ ruộng nhà, chỗ nào là giản trạch?” Đâu chẳng phải gió mạnh cọc sắt sao? Hai câu “giản chừ trạch chừ, ngay hiên treo trống”, rốt sau Tuyết Đậu đề khởi bảo cho được sống. Nếu biết được mười phần minh bạch, sau này ông tự liễu vậy. Tại sao? Đâu chẳng thấy nói: Muốn được thân thiết, chớ đem hỏi đến hỏi. Thế nên “ngay hiên treo trống”.
?
CÔNG ÁN: Tăng hỏi Triệu Châu: “Chí đạo không khó, duy hiềm giản trạch”, phải là sào huyệt của thời nhân chăng ? Triệu Châu đáp: “Đă có người hỏi tôi, mà măi đến năm năm vẫn c̣n bối rối.” GIẢI THÍCH: Triệu Châu b́nh sanh chẳng hành gậy hét, mà dùng được c̣n hơn gậy hét. Vị Tăng này hỏi rất kỳ quái, nếu không phải là Triệu Châu th́ khó đáp được cho y. Bởi Triệu Châu là hàng tác gia, chỉ nói với y “đă có người hỏi tôi, măi đến năm năm vẫn c̣n bối rối”. Chỗ hỏi vách cao ngàn nhẫn, chỗ đáp cũng chẳng nhẹ hơn. Nếu thế ấy hội, chính là đương đầu, nếu chẳng thế ấy hội, chớ khởi so tính đạo lư. Đâu chẳng thấy Tông Đạo giả trụ Đầu Tử, lúc c̣n ở trong hội Tuyết Đậu làm thơ kư, Tuyết Đậu dạy tham “chí đạo không khó, duy hiềm giản trạch”, nơi đây có tỉnh. Một hôm, Tuyết Đậu hỏi: Chí đạo không khó, duy hiềm giản trạch, ư nghĩa thế nào? Tông nói: Súc sanh, súc sanh. Sau Tông ở ẩn tại Đầu Tử, phàm đi trụ tŕ đều lấy cà-sa gói giầy cỏ chung với kinh sách. Có vị Tăng hỏi: Thế nào là tông phong của Đạo giả Tông đáp: Cà-sa gói giầy cỏ. Tăng hỏi: Chưa biết ư chỉ thế nào? Tông nói: Dưới chân trần toàn gai góc. V́ thế, nói cúng Phật chẳng ở nhiều hương, nếu vượt qua khỏi th́ bắt tha tại ta. Đă là một hỏi một đáp rơ ràng hiện thành, tại sao Triệu Châu lại nói bối rối? Hăy nói phải là sào huyệt của thời nhân chăng? Triệu Châu ở trong sào huyệt đáp y, hay ở ngoài sào huyệt đáp y? Phải biết việc này không ở trên ngôn cú. Có người tin được đến thấu xương thấu tủy, như rồng gặp nước, tợ cọp tựa núi.
TỤNG:
Tượng vương tần thân
DỊCH:
Voi chúa gầm gừ GIẢI TỤNG: Triệu Châu nói đă có người hỏi tôi, măi đến năm năm vẫn c̣n bối rối, giống như “voi chúa gầm gừ, sư tử hầm hét”. Bốn câu sau “nói bàn vô vị, miệng người bít lấp, Nam Bắc Đông Tây, quạ bay thỏ chạy”, Tuyết Đậu nếu không có câu rốt sau th́ chỗ nào lại có Tuyết Đậu? Đă là quạ bay thỏ chạy, hăy nói Triệu Châu, Tuyết Đậu, Sơn tăng cứu kính rơi ở chỗ nào?
?
TẮC 59: TRIỆU CHÂU SAO CHẲNG DẪN HẾT
LỜI DẪN: Trùm trời bao đất, vượt Thánh siêu phàm, trên đầu trăm cỏ chỉ ra Niết-bàn diệu tâm, trong rừng binh khí điểm định được mạng mạch của Thiền tăng. Hăy nói thừa ân lực người nào được thế ấy, thử cử xem? CÔNG ÁN: Tăng hỏi Triệu Châu: “Chí đạo không khó, duy hiềm giản trạch” vừa có nói năng là giản trạch, Ḥa thượng v́ người thế nào? Triệu Châu bảo: Sao chẳng dẫn hết lời này? Tăng thưa: Con chỉ nhớ đến đó. Triệu Châu bảo: Chỉ là chí đạo không khó, duy hiềm giản trạch. GIẢI THÍCH: Triệu Châu nói chỉ là chí đạo không khó, duy hiềm giản trạch, như chọi đá nháng lửa, tợ làn điện chớp, bắt tha sống chết, được tự tại như thế. Các nơi đều nói: Triệu Châu có lối biện luận siêu quần. Triệu Châu b́nh thường dạy chúng có một thiên này: Chí đạo không khó, duy hiềm giản trạch, vừa có nói năng là giản trạch là minh bạch. Lăo tăng chẳng ở trong minh bạch, các ông lại tiếc giữ hay không? Có vị Tăng hỏi: Đă chẳng ở trong minh bạch lại tiếc giữ cái ǵ? Triệu Châu nói: Ta cũng không biết. Tăng thưa: Ḥa thượng đă không biết, v́ sao nói chẳng ở trong minh bạch? Triệu Châu bảo: Hỏi việc th́ được, lễ bái rồi ra. Về sau, vị Tăng này chỉ bám chỗ sơ hở kia đi hỏi Triệu Châu, hỏi hẳn là kỳ đặc, song chỉ là tâm hành. Nếu là người khác không làm ǵ được y, nhưng với Triệu Châu là hàng tác gia, liền nói “sao chẳng dẫn hết lời này”. Vị Tăng cũng biết chuyển thân nhả hơi, liền nói “con chỉ nhớ đến đó”, dường như đă được an bài. Triệu Châu tùy thanh niêm khởi liền đáp chẳng cần suy tính. Cổ nhân gọi đó là tương tục, cũng rất khó. Sư biện rồng rắn, phân tốt xấu, quả là hàng bổn phận tác gia. Triệu Châu móc đi tṛng mắt của vị Tăng này, mà chẳng phạm mũi nhọn, chẳng mắc suy tính, tự nhiên hay khéo. Ông gọi là câu có cũng chẳng được, gọi là câu không cũng chẳng được, gọi là câu chẳng có chẳng không cũng chẳng được, ly tứ cú tuyệt bách phi. V́ sao? Nếu luận việc này như chọi đá nháng lửa, tợ làn điện chớp, phải nh́n nhanh mới thấy. Nếu là trù trừ nghĩ nghị chẳng khỏi tan thân mất mạng. Tuyết Đậu tụng ra:
TỤNG:
Thủy sái bất trước
DỊCH:
Nước rưới chẳng dính GIẢI TỤNG: Bốn câu “nước rưới chẳng dính, gió thổi chẳng lọt, cọp bước rồng đi, quỉ than thần khóc”, khó có chỗ cho ông gặm nhấm. Bốn câu tụng này là lời đáp của Triệu Châu, giống như rồng bay cọp nhảy. Vị Tăng này chỉ được một trường xấu hổ. Chẳng những vị Tăng này, dù cho quỉ cũng than, thần cũng khóc, giống như gió thổi cỏ nghiêng. Hai câu rốt sau đáng gọi là người thân được, “đầu dài ba thước biết là ai, đối diện không lời một chân đứng”. Có vị Tăng hỏi cổ đức: Thế nào là Phật? Cổ đức đáp: Đầu dài ba thước, cổ dài hai tấc. Tuyết Đậu dẫn dùng, chưa biết quí vị lại hiểu chăng? Sơn tăng cũng chẳng hiểu. Tuyết Đậu một lúc thoát thể vẽ ra h́nh Triệu Châu ở đây rồi. Quí vị phải chín chắn để mắt xem.
?
TẮC 60: VÂN MÔN CÂY GẬY HÓA RỒNG
LỜI DẪN: Chư Phật cùng chúng sanh xưa nay không khác, núi sông cùng chính ḿnh đâu có sai biệt, v́ sao lại lẫn thành hai bên? Nếu hay xoay lăn thoại đầu, ngồi đoạn yếu tân, bỏ qua tức chẳng được. Nếu chẳng bỏ qua th́ trọn đại địa chẳng tiêu một cái nắm. Thế nào là chỗ xoay lăn thoại đầu, thử cử xem? CÔNG ÁN: Vân Môn cầm cây gậy chỉ chúng nói: Cây gậy hóa làm rồng, nuốt hết càn khôn rồi vậy, núi sông đất liền chỗ nào được? GIẢI THÍCH: Như Vân Môn nói cây gậy hóa làm rồng, nuốt hết càn khôn rồi vậy, núi sông đất liền chỗ nào được? Nếu nói có ắt mù, nếu nói không ắt chết, lại thấy Vân Môn chỗ v́ người chăng? Trả cây gậy lại cho ta. Người nay chẳng hội chỗ riêng bày của Vân Môn, lại nói tức sắc minh tâm, gá vật bày lư. Như đức Phật Thích-ca bốn mươi chín năm thuyết pháp, không thể không biết cái nghị luận này, cớ sao lại đưa cành hoa, Ca-diếp cười chúm chím? Ông già này lại hồ đồ nói: Ta có chánh pháp nhăn tạng Niết-bàn diệu tâm, phân phó cho Ma-ha Ca-diếp. Lại đâu cần riêng truyền tâm ấn. Quí vị đă là khách dưới cửa Tổ sư, lại rơ được cái tâm riêng truyền chăng? Trong ngực nếu có một vật th́ núi sông đất liền quả nhiên hiện tiền, trong ngực nếu không một vật th́ bên ngoài toàn không mảy tơ, nói ǵ lư cùng trí hiệp, cảnh cùng thần hội. Cớ sao? Bởi một hội th́ tất cả hội, một sáng th́ tất cả sáng. Trường Sa nói: “Người học đạo mà chẳng biết chân, chỉ v́ từ xưa nhận thức thần, vô lượng kiếp nay gốc sanh tử, kẻ si liền gọi người xưa nay.” Nếu chợt đập tan ấm giới, thân tâm nhất như, ngoài thân không thừa, vẫn chưa được một nửa, nói ǵ là tức sắc minh tâm, gá vật bày lư. Cổ nhân nói: Một hạt bụi vừa dấy, đại địa toàn thâu. Hăy nói là hạt bụi nào ? Nếu biết được hạt bụi này th́ biết được cây gậy. Vừa nắm cây gậy đưa lên liền thấy tung hoành diệu dụng. Nói thoại thế ấy, sớm thành sắn b́m rồi, huống là lại hóa làm rồng. Tạng chủ Khánh nói: 5048 quyển lại có nói thoại thế ấy chăng? Vân Môn có khi nhằm chỗ cây gậy đưa ra toàn cơ đại dụng, v́ người một cách linh động. Ba Tiêu dạy chúng: Lỗ mũi của Thiền tăng trọn ở trên đầu cây gậy. Vĩnh Gia cũng nói: “Chẳng phải tiêu h́nh việc truyền rỗng, gậy báu Như Lai c̣n dấu vết.” Thuở xưa Như Lai ở chỗ Phật Nhiên Đăng trải tóc trên bùn để đón Phật kia. Phật Nhiên Đăng nói: Chỗ này nên cất chùa. Khi ấy có một vị Thiên tử bèn cặm một cọng cỏ, nói: Cất chùa xong. Quí vị hăy nói tin tức này từ chỗ nào được? Tổ sư nói: Đầu gậy thủ chứng, dưới hét thừa đương. Hăy nói thừa đương cái ǵ? Chợt có người hỏi thế nào là cây gậy, phải chăng liền nhào lộn? Phải chăng liền vỗ tay? Thảy đều là đùa tinh hồn, tức cười không dính dáng. Tuyết Đậu tụng ra:
TỤNG: Trú
trượng tử thôn càn khôn
DỊCH:
Cây gậy này nuốt càn khôn GIẢI TỤNG: Vân Môn v́ người ch́u uốn, Tuyết Đậu v́ người chặt thẳng. Do đó, bác hẳn hóa làm rồng, không nhận nói như thế chỉ là “cây gậy này nuốt càn khôn”. Đại ư Tuyết Đậu muốn khởi t́nh giải của người, nên nói “luống nói hoa đào sóng đưa”, chẳng cần hóa làm rồng. Bởi Vơ môn có ba cấp sóng, mỗi năm đến tháng ba hoa đào trôi theo sóng, những cá lớn hay lội ngược nước nhảy qua sóng liền hóa làm rồng. Tuyết Đậu nói dù hóa làm rồng cũng là nói suông. “Đốt đuôi nào bởi gom mây cuộn mù”, con cá nhảy qua được Vơ môn, tự có lửa trời đốt đuôi của nó, rồi gom mây cuộn mù bay đi. Ư Tuyết Đậu nói dù hóa làm rồng cũng chẳng ở chỗ gom mây cuộn mù. “Phơi mang nào hẳn vỡ mật mất hồn”, lời tựa trong Thanh Lương sớ nói: “Chứa chất hạnh Bồ-tát c̣n phải phơi mang ở Long môn.” Đại ư nói cảnh giới Hoa Nghiêm chẳng phải người tiểu đức tiểu trí đến được, như con cá nhảy qua Long môn, qua chẳng khỏi bị điểm trán trở lại, phải chịu khốn nơi băi cát vũng cạn, phơi mang vậy. Ư Tuyết Đậu nói đă điểm trán trở lại ắt vỡ mật tan hồn. “Niêm rồi vậy, nghe chẳng nghe”, lại chú cước ở dưới rằng một lúc v́ ông quét sạch rồi. Quí vị “phải là sạch trọi thong dong, thôi chớ lăng xăng rối rắm”. Nếu ông lại lăng xăng rối rắm th́ mất đi cây gậy rồi. “Bảy mươi gậy vẫn tha nhẹ”, Tuyết Đậu v́ ông tha cái nặng dùng cái nhẹ. Cổ nhân nói: Bảy mươi hai gậy trở thành một trăm năm mươi. Người nay hiểu lầm lại tính theo số mục, lư đáng phải bảy mươi lăm gậy, v́ sao chỉ có bảy mươi hai gậy? Đâu chẳng biết cổ nhân ư tại ngôn ngoại. V́ thế nói: Việc này không ở trong ngôn cú, khỏi bị người sau xuyên tạc. Lư do Tuyết Đậu dẫn dụng, dù cho ông được sạch trọi thong dong, chính nên cho ông bảy mươi hai gậy, vẫn là tha nhẹ. Nếu không được như thế, một trăm năm mươi gậy khó tha anh. Một lúc tụng xong, lại cầm cây gậy lớp lớp v́ nhau. Tuy nhiên thế ấy, cũng không một người trong da có máu. ] Minh Quang posted May 10, 2005
|
|
|