Chùa Hải-Đức in Jacksonville
|
|
Tuyết Đậu tụng cổ Bích Nham Lục Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, tập 48 Thích Thanh Từ dịch Việt
TẮC 6: VÂN MÔN MỖI NGÀY ĐỀU LÀ NGÀY TỐT
CÔNG ÁN: Vân Môn dạy: Ngày mười lăm về trướùc chẳng hỏi ông, ngày mười lăm về sau nói cho một câu xem? Sư tự đáp thế: Mỗi ngày đều là ngày tốt. GIẢI THÍCH: Vân Môn ban đầu tham vấn Mục Châu, Mục Châu đối đáp nhanh như điện xoay, thật là khó nương gá. Sư b́nh thường tiếp người vừa vào cửa liền nắm đứng bảo: Nói! Nói! Khởi suy nghĩ liền bị xô ra, nói: Cây dùi cùn thời Tần. Vân Môn yết kiến đến ba phen, mới gơ cửa, Mục Châu hỏi: Ai? Vân Môn thưa: Văn Yển. Vừa mở cửa liền chạy ùa vào. Mục Châu nắm đứng bảo: Nói! Nói! Vân Môn suy nghĩ liền bị xô ra, Vân Môn một chân c̣n trong ngạch cửa, Mục Châu đóng ập cửa lại, nghiền dập bàn chân Vân Môn. Vân Môn đau quá la to, bỗng nhiên đại ngộ. Sau này ngữ mạch tiếp người của Vân Môn một lối mẫu mực của Mục Châu. Vân Môn ở nhà Thượng thơ Trần Tháo ba năm, Mục Châu chỉ đến hội Tuyết Phong. Đến nơi, Sư liền ra chúng hỏi: Thế nào là Phật? Tuyết Phong bảo: Chớ nói mớ! Vân Môn lễ bái, ở lại ba năm. Một hôm, Tuyết Phong hỏi: Chỗ thấy của con thế nào? Vân Môn thưa: Chỗ thấy của con cùng chư Thánh không đổi dời một sợi tóc mảy tơ. Thiền sư Linh Thọ hai mươi năm không mời chức Thủ tọa, thường nói: Thủ tọa của ta sanh. Lại nói: Thủ tọa của ta chăn trâu. Lại nói: Thủ tọa của ta đi hành cước. Bỗng một hôm đánh chuông sai chúng ra trước tam quan đón Thủ tọa. Quả thật Vân Môn đến, liền thỉnh vào liêu Thủ tọa nghỉ ngơi. Người thời ấy gọi Linh Thọ là Thiền sư Tri Thánh, bởi dự biết trước việc quá khứ vị lai. Quảng chúa là Lưu vương sắp cử binh, đích thân đến viện thỉnh Sư quyết định tốt xấu. Linh Thọ đă biết trước, vui vẻ ngồi tịch. Quảng chúa tức giận hỏi thị giả: Ḥa thượng bệnh lúc nào? Thị giả đáp: Thầy không hề có bệnh, có một phong thư bảo Hầu Vương đến trao. Quảng chúa mở b́ thấy một tấm thiếp viết: Con mắt người trời là Thủ tọa trong chùa. Quảng chúa hiểu ư liền dừng binh, thỉnh Vân Môn xuất thế trụ Linh Thọ. Về sau mới trụ Vân Môn. Sư khai đường thuyết pháp có Cúc Thường thị đến hỏi: Trái Linh Thọ chín chưa? Sư đáp: Trọng năm nào được tin nó sống ? Ông lại dẫn nhân duyên Lưu vương xưa là người khách bán hương… Sau Lưu vương phong thụy Linh Thọ là Tri Thánh Thiền Sư. Linh Thọ đời đời chẳng mất thần thông. Vân Môn có ba đời làm vua nên mất thần thông. Lưu vương mời Vân Môn cùng một số tôn túc vào nội cung nhập hạ, các vị đều cho người trong nội cung thưa hỏi và thuyết pháp, chỉ có Vân Môn không nói cũng không người thân cận. Có vị Trực điện viết một bài kệ dán trên vách điện Ngọc Bích:
Đại trí tu hành thủy thị thiền
DỊCH:
Đại trí tu hành mới là thiền Về sau Sư trụ tŕ Vân Môn b́nh thường thuyết pháp thích nói thiền ba chữ: Cố, Giám, Di. Lại nói thiền một chữ, như vị Tăng đến hỏi: Giết cha giết mẹ đến trước Phật sám hối, giết Phật Tổ đến chỗ nào sám hối? Vân Môn đáp: Lộ (bày). Lại hỏi: Thế nào là chánh pháp nhăn tạng? Vân Môn đáp: Phổ (khắp). Quả là không cho nghĩ nghị, đến chỗ bằng phẳng, lại hay mắng người: “Nếu hạ một câu nói, giống hệt cây cọc sắt”. Về sau xuất phát được bốn vị hiền triết: Động Sơn Sơ, Trí Môn Khoan, Đức Sơn Mật, Hương Lâm Viễn đều là bậc đại Tông sư. Hương Lâm làm thị giả mười tám năm, khi tiếp ông Sư chỉ gọi: Thị giả Viễn! Viễn đáp: Dạ! Sư nói: Là cái ǵ? Như thế đến mười tám năm, một hôm Viễn đại ngộ. Vân Môn nói: Từ nay về sau ta không c̣n kêu ngươi. Vân Môn b́nh thường tiếp người hay dùng thủ đoạn của Mục Châu, thật là khó bề gá nương, có lối rèn luyện tháo chốt nhổ đinh. Tuyết Đậu nói: “Tôi mến Thiều Dương (Vân Môn) cơ phong mới định, một đời v́ người nhổ đinh tháo chốt.” Sư buông câu hỏi, hỏi chúng: Ngày mười lăm về trước chẳng hỏi ông, ngày mười lăm về sau nói cho một câu xem? Quả thật ngồi dứt thiên sai, không thông phàm thánh. Tự đáp thay: Mỗi ngày đều là ngày tốt. Câu “ngày mười lăm về trước” là ngồi dứt thiên sai, câu “ngày mười lăm về sau” cũng ngồi dứt thiên sai, không nói ngày mai là mười sáu. Người sau chỉ quản theo lời sanh hiểu, có dính dáng chút nào. Vân Môn lập tông phong ấy ắt là có chỗ v́ người. Hỏi xong liền tự đáp thay: Mỗi ngày đều là ngày tốt. Câu này thông suốt cổ kim, từ trước đến sau đồng thời ngồi dứt. Sơn tăng nói thoại như thế cũng là theo lời sanh hiểu, người giết không bằng tự giết, vừa khởi đạo lư là rơi hầm rớt hố. Vân Môn trong một câu đều đầy đủ ba câu, bởi v́ tông chỉ của Ngài như thế. Nói một câu cần thiết phải qui tông, nếu không như thế tức là đỗ soạn. Việc này không cho nhiều luận thuyết. Song người chưa thấu phải cần như thế, nếu người đă thấu liền thấy ư chỉ cổ nhân. Hăy xem Tuyết Đậu làm sắn b́m:
TỤNG:
Khứ khước nhất
DỊCH:
Bỏ đi một GIẢI TỤNG: Tuyết Đậu tụng cổ tài t́nh như thế, ngay đầu dùng Bảo kiếm Kim Cang Vương huơi một cái, nhiên hậu lược bày chút ít phong qui. Tuy nhiên như thế, cứu kính không có hai thứ hiểu. Hai câu “bỏ đi một, nắm được bảy”, đa số người hiểu theo lối tính số, bảo: bỏ đi một là việc ngày mười lăm về trước. Tuyết Đậu thẳng nơi đầu hạ hai câu ấn phá xong, lại bày cho người thấy “bỏ đi một, nắm được bảy”. Tối kỵ nhằm trong ngôn cú tạo kế sống. V́ sao? V́ bánh in đâu có nước. Người ta phần nhiều rơi vào ư thức, cần phải nhằm về trước khi ngữ cú chưa sanh hội lấy mới được, đại dụng hiện tiền tự nhiên thấy được. V́ thế, đức Thích-ca sau khi thành đạo, ở nước Ma-kiệt-đề hai mươi mốt ngày, Ngài suy nghĩ thế này: “Các pháp tướng tịch diệt, không thể dùng lời nói, ta đành không thuyết pháp, chóng vào Niết-bàn.” Đến trong ấy t́m chỗ mở miệng không được. Do sức phương tiện, Phật v́ năm thầy Tỳ-kheo nói, cho đến ba trăm sáu mươi hội. Giáo lư một đời đức Phật chỉ là phương tiện. V́ thế nói, cởi áo trân bảo, mặc áo nhơ xấu. Bất đắc dĩ nhằm trong nghĩa môn thứ hai, cái chỗ cạn hẹp mà dẫn dụ các con. Nếu nhằm trên chỗ toàn vẹn dạy người, th́ cả quả đất không có một người nửa người. Hăy nói thế nào là đệ nhất cú? Đến trong ấy, Tuyết Đậu bày chút ít ư cho người thấy. Ông chỉ trên chẳng thấy có chư Phật, dưới chẳng thấy có chúng sanh, ngoài chẳng thấy có núi sông, quả đất, trong chẳng thấy có kiến văn giác tri, giống hệt người chết rồi sống lại, dài ngắn, tốt xấu nhồi thành một khối, mỗi mỗi đem lại cũng không có thấy khác. Nhiên hậu ứng dụng không mất thích đáng, mới thấy được chỗ Tuyết Đậu nói: “Bỏ đi một, nắm được bảy, trên dưới bốn bên không đồng bậc.” Nếu nơi câu này thấu được, liền là trên dưới bốn bên không đồng bậc, sum la vạn tượng cỏ cây người súc rơ ràng toàn bày gia phong của chính ḿnh. V́ thế nói:
TỤNG: Vạn
tượng chi trung độc lộ thân
DỊCH:
Ở trong hiện tượng riêng bày thân Trên trời dưới trời chỉ ta hơn hết. Người đời đa số chạy theo ngọn chẳng t́m gốc. Nếu trước được gốc, tự nhiên gió thổi cỏ nghiêng, nước đọng thành hồ. “Thong dong đạp bặt tiếng suối reo”, hành động thư thả mà tiếng nước chảy ào ào cũng ưng đạp bặt. “Phỏng xem vẽ được chim bay dấu”, phóng mắt nh́n Đến trong đây, vạc dầu ḷ lửa thổi liền tắt, cây kiếm núi đao hét cũng tan, chẳng phải là việc khó. Tuyết Đậu đến đây, v́ ḷng từ bi, ngại người ngồi trong cảnh giới vô sự, lại nói: “Cỏ xanh ŕ, khói trắng bạc. sở dĩ che lấp đi liền được Cỏ xanh ŕ, khói trắng bạc .Hăy nói là cảnh giới của người nào? Bảo là “mỗi ngày đều là ngày tốt” được chăng? Đáng tức cười không dính dáng. Chính là “thong dong đạp bặt tiếng suối reo” cũng chẳng phải, “phỏng xem vẽ được chim bay dấu” cũng chẳng phải, “cỏ xanh ŕ” cũng chẳng phải, “khói trắng bạc” cũng chẳng phải. Tuy tất cả đều chẳng phải, chính là “Không sanh bên núi hoa rơi loạn”. Cần phải chuyển qua bên kia mới được. Đâu chẳng thấy Tôn giả Tu-bồ-đề ngồi yên trong núi, chư Thiên mưa hoa tán thán. Tôn giả hỏi: Trong không mưa hoa tán thán là người nào? Chư Thiên thưa: Tôi là Thiên Đế Thích. Tôn giả hỏi: Tại sao ông tán thán? Thiên thưa: Tôi trọng tôn giả nói Bát- nhă- ba-la- mật- đa hay. Tôn giả bảo: Tôi đối với Bát- nhă chưa từng nói một chữ, ông v́ sao tán thán? Thiên thưa: Tôn giả không nói, tôi không nghe, không nói không nghe là chân Bát nhă. Thiên Đế Thích lại mưa hoa khắp đất. Tuyết Đậu cũng đă làm tụng:
TỤNG: Vũ quá
vân ngưng hiểu bán khai
DỊCH:
Mưa tạnh mây ngưng sáng nửa trời Thiên Đế đă mưa hoa khắp đất, đến trong ấy lại ẩn núp chỗ nào? Tuyết Đậu lại nói:
TỤNG:
Ngă khủng đào chi đào bất đắc
DỊCH:
Tôi ngại trốn đi trốn chẳng được Dù được lột trần toàn thong dong trọn không có mảy may lỗi lầm cũng chưa là cực tắc. Vả lại cứu kính thế nào mới phải ? Nên xem tiếp văn sau, “khảy tay làm thảm thần Hư không”. Tiếng Phạn Thuấn-nhă-đa, phương này dịch thần Hư không. Lấy hư không làm th không thân xúc chạm, hào quang Phật soi mới hiện được thân. Nếu lúc ông giống như thần Hư không, th́ Tuyết Đậu chính nên khảy móng tay buồn thảm. Tuyết Đậu lại nói “chớ động đến”. Khi động đến th́ sao ? Ngày sáng trời trong, mở mắt ngủ kḥ. ?
LỜI DẪN: Một câu trước tiếng ngàn Thánh chẳng truyền, chưa từng thân cận như cách Đại thiên. Giả sử nhằm trước tiếng biện được, cắt đầu lưỡi người trong thiên hạ, cũng chưa phải là người tánh tháo. Do đó nói: Trời không thể che, đất không thể chở, hư không không thể dung, mặt trời, mặt trăng không thể chiếu, chỗ không Phật riêng xưng tôn, mới sánh được đôi phần. Nếu chưa như thế, th́ ở trên đầu sợi lông thấu được, phóng đại quang minh, bảy dọc tám ngang đối pháp tự tại tự do, nắm lại đưa ra cái nào cũng phải. Hăy nói được cái ǵ mà kỳ đặc như thế? Lại hỏi đại chúng hội chăng? Khổ thân từ trước không ai biết, chỉ cốt bàn về việc đại công. Việc hiện nay hăy gác lại, công án Tuyết Đậu lại thế nào? Xem lấy văn sau. CÔNG ÁN: Có vị Tăng hỏi Pháp Nhăn: Huệ Siêu xin hỏi Ḥa thượng thế nào là Phật? Pháp Nhăn đáp: Ông là Huệ Siêu. GIẢI THÍCH: Thiền sư Pháp Nhăn có cơ đồng thời thốt trác (con kêu mẹ mổ), đủ dụng đồng thời thốt trác, mới hay đáp lời như thế. Có thể nói siêu thanh vượt sắc được đại tự tại, nắm buông một lúc, sống chết tại ta thật là kỳ đặc. Song công án này các nơi thương lượng khá nhiều, khởi hiểu theo t́nh giải chẳng ít. Họ không biết cổ nhân phàm buông ra một lời, nửa câu đều như chọi đá nháng lửa, làn điện xẹt, thẳng đó vạch ra con đường chánh. Người sau chỉ quản chạy trên ngôn cú khởi t́nh giải nói: Huệ Siêu chính là Phật, nên Pháp Nhăn đáp như thế. Hoặc nói, giống như người cỡi trâu t́m trâu. Hoặc nói, chỗ hỏi là đúng đâu có ǵ can thiệp. Nếu hiểu như thế, chẳng những cô phụ chính ḿnh, cũng là chôn vùi cổ nhân. Nếu cần thấy toàn cơ của Pháp Nhăn, phải là kẻ đánh một gậy chẳng ngoái đầu, răng như cây kiếm, miệng tợ chậu máu, nhằm ngoài lời nói biết chỗ trở về, mới có ít phần tương ưng. Nếu mỗi mỗi khởi t́nh giải th́ cả quả đất, là kẻ diệt chủng tộc nhà Phật. Siêu Thiền khách ngay đây được ngộ, v́ b́nh thường ông ôm ấp nghiên cứu, mới được dưới một câu nói như thùng lủng đáy. Đến như Giám viện Tắc ở trong hội Pháp Nhăn cũng chưa từng tham thỉnh nhập thất. Một hôm, Pháp Nhăn hỏi: Giám viện Tắc sao chẳng vào thất? Tắc thưa: Ḥa thượng đâu không biết con ở chỗ Thanh Lâm đă có chỗ thâm nhập. Pháp Nhăn bảo: Ông thử v́ ta cử xem? Tắc thưa: Con hỏi thế nào là Phật? Thanh Lâm đáp: Đồng tử Bính Đinh đến xin lửa. Pháp Nhăn bảo: Lời khéo, ngại ông hiểu lầm, nên nói lại xem? Tắc thưa: Bính Đinh thuộc về lửa, đem lửa đi xin lửa, như con là Phật lại đi t́m Phật. Pháp Nhăn bảo: Giám viện quả nhiên hiểu lầm rồi. Tắc nổi xung, liền quảy hành lư qua sông đi phắt. Pháp Nhăn nói: Người này nếu trở lại có thể cứu, nếu không trở lại th́ không thể cứu. Tắc đi đến giữa đường, tự xét: Pháp Nhăn là thiện tri thức của năm trăm người, há lại gạt ta sao? Bèn trở lại tái tham vấn. Pháp Nhăn bảo: Ông hỏi ta, ta sẽ v́ ông đáp. Tắc hỏi: Thế nào là Phật? Pháp Nhăn đáp: Đồng tử Bính Đinh đến xin lửa. Tắc liền đại ngộ. Hiện nay có người trừng mắt khởi giải hội, nên nói kia không thương tích chớ làm thành thương tích. Loại công án này, người cửu tham một phen nghe cử liền biết chỗ rơi. Tông Pháp Nhăn gọi đó là “Tiễn phong tương trú” (Tên nhọn chỏi nhau). Chẳng dùng ngũ vị quân thần, tứ liệu giản, chỉ luận tiễn phong tương trú là gia phong của tông Pháp Nhăn như thế, dưới câu liền đó thấu được, nếu nhằm dưới câu suy nghĩ th́ ḍ t́m chẳng ra. Pháp Nhăn khai đường có năm trăm chúng, khi ấy Phật pháp rất hưng thạnh. Quốc sư Thiều theo Sơ Sơn đă lâu, tự cho đă được yếu chỉ, bèn gom góp văn tự đảnh tướng của Sơ Sơn lúc b́nh sanh, lănh chúng đi hành cước, đến trong hội Pháp Nhăn. Sư chẳng vào thất, chỉ bảo đồ đệ theo chúng vào thất. Một hôm, Pháp Nhăn đăng ṭa có vị Tăng hỏi: Thế nào là một giọt nước nguồn Tào? Pháp Nhăn đáp: Là một giọt nước nguồn Tào. Vị Tăng ấy mờ mịt thối lui. Thiều ở trong chúng nghe câu này bỗng nhiên đại ngộ. Sau, Sư khai đường thừa kế Pháp Nhăn. Sư làm tụng tŕnh:
TỤNG:
Thông huyền phong đảnh
DỊCH:
Thông huyền chót núi Pháp Nhăn ấn khả nói: Chỉ một bài tụng này đáng thừa kế tông ta, sau ngươi được bậc Vương hầu kính trọng, ta chẳng bằng ngươi. Xem người xưa ngộ thế ấy là đạo lư ǵ? Không thể một bề bảo Sơn tăng nói, phải tự ḿnh trong mười hai giờ, phấn phát tinh thần giống như thế, cùng cổ nhân đảm nhận, ngày sau ở ngă tư đường, duỗi tay v́ người cũng chẳng phải là việc khó. V́ thế, Tăng hỏi Pháp Nhăn thế nào là Phật, Pháp Nhăn đáp ông là Huệ Siêu, có chỗ nào là cô phụ nhau? Chẳng thấy Vân Môn nói: Nêu chẳng đoái, liền sai lẫn, toan suy tư, kiếp nào ngộ. Bài tụng của Tuyết Đậu ở dưới thật là sáng rỡ, thử cử xem?
TỤNG:
Giang quốc xuân phong xuy bất khởi
DỊCH:
Giang quốc gió xuân đùa chẳng dấy GIẢI TỤNG: Tuyết Đậu là bậc tác gia, ở chỗ khó gặm khó nhắm, khó thấu, khó thấy, gút mắc của cổ nhân mà tụng ra cho người thấy, quả là kỳ đặc. Tuyết Đậu nắm được ch́a khóa của Pháp Nhăn, lại biết chỗ rơi của Huệ Siêu và ngại người sau nhằm dưới ngôn cú của Pháp Nhăn lầm giải hội, v́ thế tụng ra. Vị Tăng hỏi như thế, Pháp Nhăn đáp như thế, tức là: “Giang quốc gió xuân đùa chẳng dấy, vườn hoa rậm rạp chá cô hót.” Hai câu này chỉ là một câu. Hăy nói ư Tuyết Đậu ở chỗ nào ? Giang Tây, Giang Nam nhiều người hiểu là hai thứ. Nói giang quốc gió xuân đùa chẳng dấy, tức tụng ông là Huệ Siêu. Chỉ cái tin tức này, dù cho giang quốc gió xuân đùa cũng chẳng dấy. Câu “vườn hoa rậm rạp chá cô hót” dùng tụng các nơi thương lượng câu này ồn náo, giống như chim chá cô hót trong vườn hoa, có ǵ giao thiệp. Đâu không biết hai câu này của Tuyết Đậu chỉ là một câu, cần được không thêm không bớt, rơ ràng nhằm ông nói ngôn đoan ngữ cũng đoan, che trời che đất. Tăng hỏi thế nào là Phật, Pháp Nhăn đáp ông là Huệ Siêu, Tuyết Đậu tụng: “Giang quốc gió xuân đùa chẳng dấy, vườn hoa rậm rạp chá cô hót.” Nhằm trong đây tiến được đáng là bậc riêng bước trong không. Nếu ông khởi t́nh giải th́ trải ba đời sáu mươi kiếp cũng chưa hiểu. Câu thứ ba, thứ tư Tuyết Đậu quá sức từ bi, v́ người một lúc nói phá. Chỗ Siêu Thiền khách đại ngộ, như “ba cấp sóng cao cá hóa rồng, sông Đường kẻ ngu đêm vẫn tát”. Vơ Môn tam cấp lăng Mạnh tân tức là Long Môn, Vơ Đế đào ba cấp. Nay ngày ba tháng ba khi hoa đào nở, do sự cảm ứng của trời đất, có con cá nhảy qua được Long Môn th́ trên đầu mọc sừng, ở cổ có bờm, nơi đuôi có lông, tụ mây mà đi. Nếu con nào nhảy qua không khỏi th́ bị điểm trán trở về. Người si nhằm trong lời nói nhai gặm, giống như ban đêm tát nước sông Đường để bắt cá. Sao chẳng biết cá hóa rồng rồi Sư ông Nghĩa Đoan có bài tụng:
TỤNG: Nhất văn Đại
Quang tiền
DỊCH:
Một đồng tiền Đại Quang Tụng này rất hay chỉ v́ lời văn quá vụng, Tuyết Đậu tụng rất tài, chẳng bị chạm lưỡi đứt tay. Khi xưa Tạng chủ Khánh thích hỏi người: Thế nào là ba cấp sóng cao cá hóa rồng? Ta cũng chưa chắc. Ta lại hỏi ông: Đă hóa rồng rồi hiện nay ở chỗ nào? ?
LỜI DẪN: Hội th́ trên đường thọ dụng, như rồng được nước, tợ cọp tựa núi. Chẳng hội th́ thế đế lưu bố, dê đực chạm rào, ôm cây đợi thỏ. Có khi một câu như sư tử ngồi xổm, có khi một câu như Bảo kiếm Kim Cang Vương, có khi một câu ngồi cắt đứt đầu lưỡi người trong thiên hạ, có khi một câu theo ṃi đuổi sóng. Nếu là trên đường thọ dụng th́ gặp tri âm, biện cơ nghi, biết lỗi lầm, cùng nhau chứng minh. Nếu là thế đế lưu bố, đủ một con mắt, khả dĩ ngồi dứt mười phương, vách đứng ngàn nhẫn. V́ thế nói đại dụng hiện tiền chẳng c̣n phép tắc. Có khi đem một cọng cỏ làm thân vàng trượng sáu, có khi đem thân vàng trượng sáu làm cọng cỏ. Hăy nói bằng vào đạo lư nào? Lại rơ biết chăng? Thử cử xem? CÔNG ÁN: Thúy Nham cuối hạ dạy chúng: Từ đầu hạ đến nay v́ huynh đệ thuyết thoại, xem Thúy Nham lông mày c̣n chăng? Bảo Phước nói: Làm cướp biết cướp. Trường Khánh nói: Sanh vậy. Vân Môn nói: Quan. GIẢI THÍCH: Cổ nhân có sớm tham chiều thỉnh, Thúy Nham đến cuối hạ lại dạy chúng thế ấy, song quả thật cao vót, quả thật rung trời động đất. Cả Đại tạng kinh 5048 quyển chẳng khỏi nói tâm nói tánh, nói đốn nói tiệm, lại có tin tức này chăng? Hàng nhất đẳng là thời tiết ấy. Thúy Nham thật là kỳ đặc, xem Sư nói thế, thử nói ư Sư rơi tại chỗ nào? Cổ nhân buông một lưỡi câu, trọn chẳng dối bày, phải có đạo lư v́ người. Đa số người hiểu lầm nói: Thanh thiên bạch nhật nói lời không nhằm hiện tại, vô sự sanh sự, cuối hạ trước tự nói lỗi, trước tự kiểm điểm, để khỏi người khác kiểm điểm. Thật đáng tức cười không dính dáng. Loại kiến giải này gọi là diệt chủng tộc nhà Phật. Nhiều đời Tông sư khi mở hội, nếu chẳng dạy bảo cho người trọn không lợi ích, mong làm cái ǵ? Đến trong ấy nh́n được thấu, mới biết cổ nhân có cái thuật đoạt trâu người cày, cướp cơm người đói. Người nay hỏi đến liền nhằm trong ngôn cú gặm nhấm, trên lông mày làm kế sống. Thấy người trong thất kia tự nhiên biết chỗ đi của họ, thiên biến vạn hóa gút mắc khó khăn rơ ràng có con đường xuất thân, mới hay v́ người đối đáp như thế. Lời nói này nếu không kỳ đặc th́ ba vị Vân Môn, Bảo Phước, Trường Khánh đua nhau thù xướng làm ǵ? Bảo Phước nói: Làm cướp biết cướp. Nhân câu này gợi lên nhiều thứ t́nh giải. Thử nói ư Bảo Phước thế nào? Tối kỵ nằm trong câu t́m cổ nhân. Ông nếu sanh t́nh khởi niệm th́ móc tṛng con mắt của ông. Đâu không biết Bảo Phước hạ một chuyển ngữ là chặt đứt gót chân Thúy Nham. Trường Khánh nói: Sanh vậy. Nhiều người bảo Trường Khánh đi theo gót chân Thúy Nham, v́ thế nói sanh vậy. Vẫn không dính dáng. Không biết Trường Khánh tự xuất kiến giải của ḿnh, nói sanh vậy. Mỗi người có một chỗ xuất thân. Tôi hỏi ông chỗ nào là chỗ sanh? Là hàng tác gia, cây bảo kiếm Kim Cang Vương trước mặt thẳng đó liền dùng. Nếu người đập tan kiến giải tầm thường, chặt đứt mọi được mất phải quấy, mới thấy được chỗ thù xướng của Trường Khánh. Vân Môn nói Quan, quả là kỳ đặc, song khó tham cứu. Đại sư Vân Môn phần nhiều dùng “Nhất tự thiền” dạy người. Tuy trong một chữ phải đủ ba câu. Xem cổ nhân lâm cơ thù xướng một cách tự nhiên, so với người thời nay khác xa về h́nh thức câu nói. Cổ nhân tuy nói như thế, ư quyết không ở trong ấy. Đă không ở trong ấy, hăy nói ở chỗ nào? Cần phải chín chắn tự tham cứu mới được. Nếu là người mắt sáng có kỹ thuật chiếu thiên chiếu địa, liền đó tám mặt linh lung, Tuyết Đậu dùng một chữ Quan ḥa cùng ba cái kia xỏ làm một xâu tụng ra:
TỤNG:
Thúy Nham thị đồ
DỊCH:
Thúy Nham dạy chúng GIẢI TỤNG: Tuyết Đậu nếu chẳng từ bi tụng ra cho người thấy th́ đâu được gọi là Thiện tri thức. Cổ nhân như thế, mỗi mỗi đều là việc bất đắc dĩ làm ra. Kẻ hậu học bám vào ngôn cú của người, chuyển sanh t́nh giải, do đó chẳng thấy được ư chỉ cổ nhân. Như hiện nay có người lật ngược giường thiền, hét tan đại chúng, quở y chẳng được, tuy nhiên như thế phải thật đến chỗ đất này mới được. Tuyết Đậu nói: “Ngàn xưa không đối”, chỉ nói xem lông mày Thúy Nham c̣n chăng? Có chỗ nào kỳ đặc mà ngàn xưa không đối? Phải biết cổ nhân nhả một lời nửa câu chẳng phải tầm thường, cần phải có con mắt định càn khôn mới được. Tuyết Đậu đặt một lời nửa câu như bảo kiếm Kim Cang Vương, như sư tử ngồi xổm, như chọi đá nháng lửa, như làn điện chớp. Nếu chẳng phải là người đủ con mắt ở đảnh môn th́ không thể thấy chỗ rơi của cổ nhân. Lời dạy chúng này hẳn là ngàn xưa không đối, c̣n hơn gậy của Đức Sơn, hét của Lâm Tế. Thử nói Tuyết Đậu v́ người, ư tại chỗ nào? Ông làm sao hiểu Tuyết Đậu nói ngàn xưa không đối? “Chữ Quan đáp nhau, mất tiền tạo tội”, ư này thế nào? Dù cho bậc có con mắt thấu quan (cửa), đến trong ấy cũng phải chín chắn mới được. Hăy nói là Thúy Nham mất tiền tạo tội, là Tuyết Đậu mất tiền tạo tội, là Vân Môn mất tiền tạo tội? Ông nếu thấu được, nhận ông có một con mắt. “Bảo Phước gian nan, đè nâng khó được”, là đè chính ḿnh, nâng cổ nhân. Bảo Phước ở chỗ nào đè, chỗ nào nâng ? “Thúy Nham nói nhiều, rơ ràng là cướp”, hăy nói Sư cướp cái ǵ mà Tuyết Đậu nói là cướp? Tối kỵ theo ngữ mạch của người chuyển, đến trong đây phải tự giữ tiết tháo mới được. “Bạch khuê không tỳ”, là tụng Thúy Nham giống như Bạch khuê không có chút t́ vết! “Ai biện chân giả”, có thể nói ít có người biện được. Tuyết Đậu đại tài từ đầu đến cuối quán xuyến hết, rốt sau mới nói “Trường Khánh hiểu nhau, lông mày sanh vậy”. Hăy nói sanh ở chỗ nào? Để mắt xem gấp! ?
LỜI DẪN: Gương sáng hiện trên đài, đẹp xấu tự phân, kiếm Mạc Da trong tay, sống chết tùy thời. Hán đi Hồ lại, Hồ lại Hán đi, trong chết được sống, trong sống được chết. Thử nói đến trong ấy lại làm thế nào? Nếu không có con mắt thấu quan (cửa) làm chỗ chuyển thân, đến trong ấy hẳn là không làm ǵ được. Hăy nói thế nào là con mắt thấu quan làm chỗ chuyển thân, thử cử xem? CÔNG ÁN: Tăng hỏi Triệu Châu: Thế nào là Triệu Châu? Triệu Châu đáp: Cửa Đông cửa Tây cửa Nam cửa Bắc. GIẢI THÍCH: Phàm kẻ tham thiền hỏi đạo xét rơ chính ḿnh, tối kỵ giản trạch ngôn cú. V́ sao? Đâu chẳng thấy Triệu Châu nói: Chí đạo không khó, chỉ hiềm giản trạch. Lại chẳng thấy Vân Môn nói: Hiện nay Thiền khách ba người năm người dụm đầu miệng nói ồn náo, nói cái này là cú ngữ “thượng tài”, cái kia là ngữ “tựu thân xứ đă xuất”. Không biết trong cửa phương tiện của cổ nhân, v́ kẻ sơ cơ hậu học chưa rơ chỗ tâm địa, chưa thấy bản tánh, bất đắc dĩ mà lập ngữ cú phương tiện. Như Tổ sư từ Ấn sang riêng truyền tâm ấn, chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật. Ở đâu có sắn b́m như thế? Cần phải chặt đứt ngữ ngôn, cách ngoại thấy thật, thấu thoát được rồi, đáng gọi như rồng gặp nước, như cọp tựa núi. Những bậc tiên đức cửu tham có thấy mà chưa thấu, có thấu mà chưa minh, gọi đó là thỉnh ích. Nếu thấy được thấu mà thỉnh ích, lại cần trên ngữ cú xoay quanh không có mắc kẹt, người cửu tham thỉnh ích như v́ kẻ trộm đưa thang, kỳ thật việc này không ở trên ngôn cú. V́ thế, Vân Môn nói: Việc này nếu ở trên ngôn cú th́ ba thừa mười hai phần giáo há không ngôn cú, cần ǵ Tổ Đạt-ma từ Ấn Độ sang. Phần Dương trong mười tám câu hỏi, câu hỏi này gọi là Nghiệm Chủ Vấn, cũng gọi là Thám Bạt Vấn. Vị Tăng đặt câu hỏi này thật là kỳ đặc, nếu không phải Triệu Châu cũng khó đáp được. Vị Tăng hỏi: Thế nào là Triệu Châu? Triệu Châu là bổn phận tác gia liền đáp: Cửa Đông cửa Tây cửa Nam cửa Bắc. Tăng thưa: Con không hỏi Triệu Châu này. Triệu Châu bảo: Ông hỏi Triệu Châu nào? Người sau gọi là “Vô sự thiền”, thật là lừa người chẳng ít. V́ sao? Bởi Tăng hỏi Triệu Châu, Triệu Châu đáp: Cửa Đông cửa Tây cửa Nam cửa Bắc, chỉ là đáp cái thành Triệu Châu. Ông hiểu như thế, người trong thôn ba nhà cũng hiểu Phật pháp rồi. Đây là phá diệt Phật pháp, như đem con mắt cá so sánh với hạt minh châu, giống th́ giống mà phải th́ chẳng phải. Lăo tăng nói: Chẳng ở Hà Nam, chính tại Hà Bắc. Hăy nói là hữu sự hay vô sự? Cần phải chín chắn mới được. Viễn Lục Công nói: Một câu rốt sau mới đến lao quan (cửa chắc chắn), ư chỉ chỉ nam không ở trong ngôn thuyết, mười ngày một trận gió, năm ngày một đám mưa, an bang lạc nghiệp, vỗ bụng hát ca, gọi đó là thời tiết thái b́nh, gọi đó là vô sự, chẳng phải mù tịt gọi là vô sự. Cần phải tháo được cây chốt cửa, ra khỏi rừng gai góc, lột trần toàn thong dong, như xưa giống hệt người b́nh thường. Do ông hữu sự cũng được, vô sự cũng được, bảy dọc tám ngang, trọn chẳng chấp không, định có. Có một bọn người nói: Xưa nay không một vật, chỉ gặp trà uống trà, gặp cơm ăn cơm. Đây là đại vọng ngữ, chưa được nói được, chưa chứng nói chứng. Xưa nay chưa từng tham được thấu, nghe người nói tâm nói tánh, nói huyền nói diệu, liền bảo chỉ là cuồng ngôn xưa nay không việc. Quả là người mù dẫn đám mù. Đâu chẳng biết khi Tổ sư chưa đến, ở đâu gọi trời là đất, gọi núi là sông. V́ sao Tổ sư Tây sang ? Các nơi đăng đường nhập thất, nói cái ǵ ? Trọn là t́nh thức so lường. Nếu t́nh thức so lường ấy hết, mới thấy được thấu. Nếu thấy được thấu, như xưa trời là trời, đất là đất, núi là núi, nước là nước. Cổ nhân nói: Tâm là căn, pháp là trần, hai thứ ví như vết trên gương. Đến chỗ đất này tự nhiên lột trần toàn thong dong. Nếu tột cùng lư luận cũng chưa phải là chỗ an ổn. Đạt đến đó đa số người lầm hiểu cho là cảnh vô sự, Phật cũng chẳng lễ, hương cũng chẳng đốt. Giống th́ cũng giống, đến chỗ thoát thể th́ chẳng phải. Vừa hỏi đến th́ tương tợ cực tắc, vừa chụp đến th́ bảy hoa tám mảnh, trụ ở chỗ bụng rỗng tâm cao, đến đêm ba mươi tháng chạp quơ tay chụp ngực, đă muộn rồi. Vị Tăng hỏi Triệu Châu thế ấy, Triệu Châu đáp thế ấy, hăy nói làm sao ḍ t́m? Thế ấy cũng chẳng được, chẳng thế ấy cũng chẳng được, cứu kính thế nào? Chỗ này là nạn xứ, cho nên Tuyết Đậu đưa ra trước mặt chỉ cho người. Một hôm Triệu Châu đang ngồi, thị giả thưa: Có Đại vương đến. Triệu Châu nhớn nhác nói: ĐaÏi vương muôn phước. Thị giả thưa: Bạch Ḥa thượng chưa đến. Triệu Châu bảo: Lại nói đến rồi. Tham thiền đến trong ấy, thấy đến trong ấy, quả là kỳ đặc. Thiền sư Nam niêm rằng: Thị giả chỉ biết báo khách, chẳng biết thân tại đế hương, Triệu Châu vào cỏ t́m người, bất chợt cả thân bùn dấy. Chỗ chân thật này, các người lại biết chăng? Xem lấy bài tụng của Tuyết Đậu:
TỤNG:
Cú lư tŕnh cơ phách diện lai
DỊCH:
Trong cú tŕnh cơ vạch mặt ra GIẢI TỤNG: Triệu Châu lâm cơ dường như bảo kiếm Kim Cang Vương, vừa nghĩ nghị là chặt đầu ông, thường thường ngay mặt móc lấy con mắt ông. Vị Tăng này dám nhổ râu cọp, đặt ra câu hỏi dường như vô sự sanh sự, không ngờ trong câu có cơ, ông đă tŕnh cơ ra. Triệu Châu cũng chẳng cô phụ câu hỏi của ông, cho nên cùng tŕnh cơ đáp. Chẳng phải Triệu Châu đáp mọi người đều như thế, người thấy thấu tự nhiên khế hợp, dường như có sự an bài sẵn. Có một ngoại đạo tay cầm con chim sẻ đến hỏi Phật: Thử nói con chim trong tay tôi là chết hay sống? Thế Tôn liền bước lại bệ cửa, bảo: Ngươi nói ta ra hay vào? (Có bản nói Thế Tôn đưa tay lên hỏi: Nắm hay x̣e?) Ngoại đạo nói không được liền lễ bái. Lối nói này tương tợ công án ở đây. Người xưa tự là huyết mạch chẳng dứt, cho nên nói: Vấn tại đáp xứ, đáp tại vấn xứ. Tuyết Đậu thấy được thấu, liền nói: Trong cú tŕnh cơ vạch mặt ra. Trong câu có cơ như kèm hai ư, dường như hỏi người, dường như hỏi cảnh. Triệu Châu không dời đổi một mảy tơ, liền v́ kia nói: Cửa Đông cửa Tây cửa Nam cửa Bắc. Câu tụng “trần ai chẳng dính mắt ca-la” là nói Triệu Châu nhân cảnh đều đoạt, nhằm trong câu tŕnh cơ để đáp cho vị Tăng. Đây gọi là có cơ có cảnh, vừa chuyển liền chiếu phá tận tim mật của kia. Nếu không như thế, khó mà lấp được câu hỏi của vị Tăng. Thước-ca-la nhăn là tiếng Phạn, dịch là con mắt kiên cố, cũng là con mắt Kim Cang, soi thấy không ngại, chẳng những soi thấy từng mảy tơ ở ngoài ngàn dặm, mà c̣n định tà quyết chánh, biện đắc thất, phân biệt cơ nghi, biết lỗi lầm. Tuyết Đậu nói: “Nam Bắc Đông Tây cửa tương đối, biết bao chùy sắt đập chẳng ra” chính là chỗ thấy của Tuyết Đậu như thế, các ông lại làm sao cho cửa này mở? Hăy tham cứu kỹ xem! ?
LỜI DẪN: Thế ấy thế ấy, chẳng thế ấy chẳng thế ấy, nếu luận chiến th́ mỗi mỗi ở chỗ chuyển, cho nên nói: Nếu hướng thượng chuyển liền được Thích-ca, Di-lặc, Văn-thù, Phổ hiền, ngàn Thánh muôn Thánh, các bậc Tông sư khắp thiên hạ thảy đều nuốt hơi ngậm miệng. Nếu hướng hạ chuyển th́ chim chóc mối kiến xuẩn động hàm linh mỗi mỗi đều phóng hào quang sáng, mỗi mỗi đều vách đứng vạn nhẫn. Nếu như chẳng thượng chẳng hạ, lại làm sao thương lượng? Có điều vin điều, không điều vin lệ, thử cử xem? CÔNG ÁN: Mục Châu hỏi vị Tăng: Vừa rời chỗ nào? Tăng liền hét! Mục Châu nói: Lăo tăng bị một tiếng hét của ông. Tăng lại hét! Mục Châu nói: Ba hét bốn hét sau rồi làm ǵ? Tăng lặng câm. Mục Châu liền đánh, nói: Kẻ cướp rỗng này. GIẢI THÍCH: Phàm là người dựng lập Tông giáo phải có bổn phận Tông sư nhăn mục, có bổn phận Tông sư tác dụng. Mục Châu cơ phong dường như điện chớp, thích khám phá các tọa chủ. B́nh thường Sư nói ra một lời, nửa câu giống như cả rừng gai góc, để chân tay đến không được. Sư vừa thấy Tăng đến liền nói: Hiện thành công án, tha ông ba mươi gậy. Có khi thấy Tăng, Sư gọi: Thượng tọa! Tăng xoay đầu lại. Sư bảo: Kẻ gánh bản. Sư dạy chúng: Chưa có chỗ vào phải được chỗ vào, đă được chỗ vào không được cô phụ Lăo tăng. Mục Châu v́ người phần nhiều như thế. Vị Tăng hỏi đây cũng khéo giũa gọt, song đầu rồng, đuôi rắn. Chính khi ấy, nếu không phải Mục Châu cũng bị y làm một trường bối rối. Như Mục Châu hỏi vừa rời chỗ nào, Tăng liền hét, hăy nói ư chỉ thế nào? Lăo già này cũng không rối loạn, chậm răi nói với y, Lăo tăng bị một tiếng hét của ông. Dường như nhận thoại của y được một phần, lại dường như nghiệm y, nép thân qua một bên xem y thế nào. Vị Tăng này lại hét, giống th́ giống, phải th́ chưa phải. Bị lăo già này xỏ lỗ mũi, bèn hỏi ba tiếng hét, bốn tiếng hét sau rồi làm ǵ. Quả nhiên vị Tăng này câm họng. Mục Châu liền đánh, bảo: Kẻ cướp rỗng này. Thật là nghiệm người đến chỗ chính xác, buông lời liền là tri âm. Tiếc thay vị Tăng này câm họng, nên bị Mục Châu nói kẻ cướp rỗng này. Nếu là quí vị, bị Mục Châu bảo ba tiếng hét bốn tiếng hét sau rồi làm ǵ, nên đáp thế nào để khỏi bị nói kẻ cướp rỗng này? Trong đây nếu là người biết sống chết, rành tốt xấu, chân đạp đến chỗ đất chân thật, nào quản ba tiếng hét bốn tiếng hét sau rồi làm ǵ. Bởi vị Tăng này câm họng, nên bị lăo ấy cứ theo bản luận tội kết án. Nghe Tuyết Đậu tụng:
TỤNG: Lưỡng
hát dữ tam hát
DỊCH:
Hai hét cùng ba hét GIẢI TỤNG: Tuyết Đậu chẳng ngại có chỗ v́ người. Nếu không phải là hàng tác gia th́ chỉ hét hồ hét loạn thôi. V́ thế cổ nhân nói: Có khi một tiếng hét không có cái dụng của tiếng hét, có khi một tiếng hét có cái dụng của một tiếng hét, có khi một tiếng hét như sư tử ngồi xổm, có khi một tiếng hét như bảo kiếm Kim Cang Vương. Thiền sư Hưng Hóa nói: Ta thấy các ông ở bên Đông lang hét, ở bên Tây lang cũng hét, chớ có hét hồ hét loạn, dù cho hét đến Hưng Hóa bay bổng lên cơi trời Tam thập tam, rớt lại xuống đất chết ngất, đợi đến khi tỉnh lại, ta sẽ nói với các ông là chưa phải. V́ sao? V́ Hưng Hóa chưa từng nhằm trong màn trướng tía ném chân châu cho các ông, các ông chỉ thích hét hồ hét loạn làm ǵ? Tổ Lâm Tế nói: Ta nghe các ông thảy học tiếng hét của ta, ta hỏi các ông nhà Đông có vị Tăng đến, nhà Tây có vị Tăng đến, cả hai đồng thời hét, vậy tiếng hét nào là khách, tiếng hét nào là chủ? Nếu các ông phân chủ khách chẳng được, về sau không được bắt chước Lăo tăng. V́ thế Tuyết Đậu tụng “tác giả biết cơ biến”. Vị Tăng này tuy bị Mục Châu thâu, song y có biết chỗ cơ biến. Hăy nói chỗ nào là chỗ vị Tăng này biết cơ biến? Thiền sư Trí ở Lộc Môn điểm vị Tăng này rằng: Người biết pháp sợ Nham Đầu nói nếu luận chiến th́ mỗi mỗi đứng tại chỗ chuyển. Ḥa thượng Tử Tâm ở Hoàng Long nói: Cùng th́ biến, biến th́ thông. Cái này là chỗ Tổ sư ngồi cắt đầu lưỡi người trong thiên hạ. Ông nếu biết cơ biến, nhắc đến liền biết chỗ rơi. Có một nhóm người nói: Cần đợi kia nói ba hét bốn hét làm ǵ, chỉ cần hét sắp dứt liền hét, hai chục đến ba chục hét, hét đến Di-lặc hạ sanh, gọi đó là cỡi đầu cọp. Nếu thấy biết như thế là chẳng biết Mục Châu cần thấy vị Tăng kia, rất xa vậy. Như người cỡi đầu cọp cần phải trong tay có đao, cũng biết chuyển biến mới được. Tuyết Đậu nói nếu thấy biết thế ấy, “cả hai đều mù hết”. Tuyết Đậu giống như cầm cây Ỷ Thiên trường kiếm, oai phong lẫm lẫm. Nếu hiểu được ư Tuyết Đậu, tự nhiên ngàn chỗ muôn chỗ đồng thời hiểu, liền thấy phần tụng sau của Tuyết Đậu chỉ là chú giải. Lại nói “ai kẻ mù”, thử nói khách mù hay chủ mù? Hay là chủ khách đồng thời mù chăng? “Đem ra thiên hạ cho người xem”, đây là chỗ sống, Tuyết Đậu một lúc tụng xong vậy. Lại nói “đem ra thiên hạ cho người xem”, hăy nói làm sao xem? Mở mắt xem hay nhắm mắt xem? Lại có người khỏi được chăng?
Minh Quang posted April 24, 2005
|
|
|